TopPodcast.com
Menu
  • Home
  • Top Charts
  • Top Networks
  • Top Apps
  • Top Independents
  • Top Podfluencers
  • Top Picks
    • Top Business Podcasts
    • Top True Crime Podcasts
    • Top Finance Podcasts
    • Top Comedy Podcasts
    • Top Music Podcasts
    • Top Womens Podcasts
    • Top Kids Podcasts
    • Top Sports Podcasts
    • Top News Podcasts
    • Top Tech Podcasts
    • Top Crypto Podcasts
    • Top Entrepreneurial Podcasts
    • Top Fantasy Sports Podcasts
    • Top Political Podcasts
    • Top Science Podcasts
    • Top Self Help Podcasts
    • Top Sports Betting Podcasts
    • Top Stocks Podcasts
  • Podcast News
  • About Us
  • Podcast Advertising
  • Contact
Not in our directory?
Add Show Here
Podcast Equipment
Center

toppodcastlogoOur TOPPODCAST Picks

  • Comedy
  • Crypto
  • Sports
  • News
  • Politics
  • True Crime
  • Business
  • Finance

Follow Us

toppodcastlogoStay Connected

    View Top 200 Chart
    Back to Rankings Page
    Government

    Tạp chí Việt Nam

    Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam

    Advertise

    Copyright: © Rfi

    • Apple Podcasts
    • Google Play
    • Spotify

    Latest Episodes:
    Thiếu hụt nhân lực cho dự án điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam Oct 19, 2026
    Show notes

    Việt Nam đã tái khởi động 2 dự án nhà máy điện hạt nhân đầu tiên, Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2, đồng thời dự trù sau đó có thể sẽ tiến tới triển khai thêm các công nghệ lò phản ứng module nhỏ (SMR). Chưa biết các dự án đó sẽ được hoàn thành đúng kỳ hạn hay không, nhưng có nguy cơ Việt Nam sẽ thiếu hụt nhân lực để vận hành các nhà máy điện hạt nhân.

    Việt Nam đã bắt đầu nghiên cứu phát triển điện hạt nhân từ đầu những năm 2000, nhằm đa dạng hóa nguồn cung và đáp ứng nhu cầu điện trong dài hạn. Sau quá trình khảo sát, tỉnh Ninh Thuận (cũ) đã được lựa chọn để xây dựng 2 nhà máy điện hạt nhân đầu tiên. Năm 2009, Quốc Hội thông qua chủ trương đầu tư dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận. Tuy nhiên, đến năm 2016, dự án bị tạm dừng "do điều kiện chưa cho phép". Mãi đến năm 2024, Quốc Hội Việt Nam mới thông qua quyết định khởi động lại dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận. Mục tiêu đề ra là đưa hai nhà máy này vào hoạt động vào năm 2035.

    Trước mắt Việt Nam sẽ hợp tác với Nga để xây dựng Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1. Ngày 23/3/2026, Việt Nam và Nga đã ký Hiệp định liên Chính phủ về hợp tác xây dựng nhà máy điện hạt nhân trên lãnh thổ Việt Nam. Nhà máy sẽ được xây dựng bằng công nghệ của Nga và được tài trợ bằng khoản vay từ Nga. Theo hãng thông tấnTASS, tại Diễn đàn Kinh tế phương Đông EEF 2026 (01-04/09/2026), giám đốc điều hành Tập đoàn Năng lượng Hạt nhân Nhà nước Nga Rosatom, ông Alexey Likhachev, cho biết công tác thi công hợp đồng xây dựng và vận hành Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 “đang được tiến hànhkhẩn trương.” Cụ thể, "công tác soạn thảo hợp đồng và đạt được các thỏa thuận ràng buộc pháp lý về tiến độ và cấu trúc dự án đang được tiến hành khẩn trương. Lò phản ứng thế hệ III+ VVER-1200 đã được chọn cho dự án". VVER*1200 là một lò phản ứng áp dụng công nghệ mới nhất của Nga, có công suất khoảng 1.200 Megawatt.

    Còn về dự án Ninh Thuận 2, sau khi Nhật Bản rút, chính phủ Việt Nam hiện đang xem xét chọn một đối tác công nghệ "phù hợp". Hàn Quốc (với tập đoàn KEPCO) là một trong những đối tác tiềm năng đã bày tỏ mong muốn và sẵn sàng hợp tác toàn diện trong các khâu từ xây dựng nhà máy, vận hành, bảo đảm an toàn, cho đến đào tạo nhân lực.

    Tuy nhiên, trả lời RFI Việt ngữ ngày 09/10/2026, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, cho rằng Việt Nam không thể nào hoàn tất được dự án nhà máy điện hạt nhân vào thời điểm 2035 như dự kiến, vì từ đây đến đó chỉ còn 10 năm:

    "Kinh nghiệm từ những nước đã làm như Bangladesh, từ lúc động thổ, bắt đầu xây dựng trên công trường thì phải mất 7 năm sau may ra mới đưa nhà máy vào vận hành được. Bangladesh đã lùi lại kế hoạch vận hành bao nhiêu năm rồi, lần này định là vào tháng 12 năm nay, nhưng không biết có làm được hay không. Mà trước khi động thổ thì cần phải có một thời gian chuẩn bị nhiều, kể cả việc xét duyệt dự án thì phải mất mấy năm. Cho nên không thể nào năm 2035 mà xong được.

    Dự án nhà máy điện thứ hai thì Nhật đã rút lui rồi, bây giờ chắc là Hàn Quốc sẽ nhảy vào được thôi. Chưa có thông tin chính thức gì về chuyện này. Nhưng mà thực ra tôi nghĩ Việt Nam chỉ có thể xúc tiến một lúc một nhà máy thôi, sau đó từ từ tính sau, chứ nhân lực như thế này lấy đâu ra để mà làm nhiều được!"

    Một trong những vấn đề lớn nhất của Việt Nam hiện nay đó là đào tạo đủ nguồn nhân lực để vận hành các nhà máy điện hạt nhân một khi hoàn thành. Theo báo chí trong nước, trong cuộc họp báo của bộ Khoa Học và Công Nghệ tháng 9 vừa qua, ông Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, đã nhìn nhận: "Kế hoạch quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử đã được ban hành, có đặt ra nhiệm vụ về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, việc triển khai đến nay vẫn chưa thực sự hiệu quả. Một phần vì thiếu kinh phí, phần khác do chưa xác định được đầy đủ những nhiệm vụ cụ thể và nhu cầu đối với công nghệ hạt nhân ở các bộ, ngành khác."

    Theo thẩm định, một nhà máy điện hạt nhân có thể cần khoảng 1.000 người, trong đó phần lớn là nhân viên vận hành, kỹ thuật và hỗ trợ (khoảng 700-800 người), còn đội ngũ nhân lực cốt lõi khoảng 200-300 người.

    Theo ông Trần Chí Thành, trước đây, Việt Nam đã từng cử gần 100 người sang Nga và Nhật Bản để đào tạo về điện hạt nhân. Tuy nhiên, sau khi trở về, một bộ phận trong số này đã chuyển sang làm việc ở những lĩnh vực khác. Số người quay lại làm việc trong lĩnh vực hạt nhân hiện có lẽ chỉ còn khoảng 30%. Vấn đề là ở Việt Nam hiện nay chưa có những chương trình đào tạo về kỹ thuật hạt nhân bài bản như các quốc gia khác, cho nên trước mắt vẫn phải đưa người đi đào tạo ở nước ngoài, chủ yếu chắc sẽ là ở Nga.

    Nhưng theo giáo sư Phạm Duy Hiển, quan trọng hơn hết là đào tạo được những chuyên gia đủ khả năng thẩm định để xét duyệt dự án nhà máy điện hạt nhân:

    "Vấn đề này là tùy thuộc vào cách làm điện hạt nhân như thế nào. Nếu như làm điện hạt nhân để mà dần dần tiến đến làm chủ được công nghệ, tự anh có thể thay thế một phần công việc thì khác. Còn nếu như mà làm kiểu như để cho người ta chỉ đâu mình làm đó thì khác. Về cách thứ nhất, hai nước Hàn Quốc và Trung Quốc rất thành công, tức là họ có phần chuyển giao công nghệ từ bên ngoài.

    Sau khi chuyển giao công nghệ đó một thời gian tương đối ngắn thì họ có thể làm chủ được công nghệ, như là Hàn Quốc có thể tự xây dựng được nhà máy điện hạt nhân, thậm chí còn xuất khẩu được sang các nước khác. Trung Quốc cũng tự xây dựng được và do nhu cầu xây dựng trong nước rất lớn cho nên họ tự lực cánh sinh được.

    Nhưng Việt Nam chưa chắc đã bắt chước như thế được, bởi vì lực lượng công nghiệp của Việt Nam thấp hơn nhiều so với hai nước đó. Thứ hai, nếu muốn làm điện hạt nhân mà dần dần làm chủ công nghệ thì trước hết phải có những người làm trong cái gọi Ủy ban an toàn quốc gia, tức là cơ quan tiếp nhận các kế hoạch của nước ngoài để tự xem xét, thẩm định, phán xét được các dự án đó, nhất là về mặt môi trường, về mặt địa chất. Hiện nay Việt Nam ngay chỗ đấy là cũng đã thiếu người rồi.

    Cũng đã có kế hoạch đào tạo, nhưng ta không nên hiểu đào tạo là cử người đi học ở nước ngoài. Đào tạo ở đây là phải thông qua làm việc trong nước, mà muốn làm như vậy thì Việt Nam phải cho chạy được một lò phản ứng công suất lớn, chứ còn công suất như lò Đà Lạt thì chỉ làm những việc ứng dụng thôi. Trước đây chính ông Putin, lúc bấy giờ đang làm thủ tướng, đã đề nghị Nga giúp Việt Nam xây một trung tâm hạt nhân như thế.

    Câu chuyện này đã nói từ cái năm 2010, nhưng cho đến bây giờ cũng chưa đâu vào đâu cả. Kinh nghiệm của nhiều nước là muốn có được người giỏi làm chủ được công nghệ thì phải đào tạo qua những cơ sở như thế. Chẳng hạn Bắc Triều Tiên cũng làm theo cách như vậy."

    Theo báo chí trong nước, Việt Nam đang triển khai dự án xây dựng một lò hạt nhân nghiên cứu mới tại Đồng Nai, với công suất dự kiến cao hơn khoảng 30 lần so với lò Đà Lạt.

    Nhưng đối với điện hạt nhân, quá trình đào tạo không thể thực hiện trong thời gian ngắn. Đội ngũ kỹ sư cần nhiều năm học tập, thực hành và tích lũy kinh nghiệm trước khi có thể đảm nhiệm các vị trí chuyên môn tại nhà máy.

    Về điểm này, giáo sư Phạm Duy Hiển ghi nhận:

    " Như Nga đã làm cho Bangladesh, tức là họ đưa những người chưa biết gì sang Nga để đào tạo cho các cơ quan pháp quy ở Bangladesh. Còn mình thì bây giờ sắp đến thì chưa biết sẽ làm như thế nào, nhưng phải có đàm phán về những chuyện đó. Chứ còn đào tạo người để điều khiển lò phản ứng thì không khó.

    Ta phải phân biệt với việc đào tạo những người để vận hành nhà máy điện hạt nhân. Còn những người tiếp thu được công nghệ và phát triển cho mình để làm chủ được công nghệ thì phải đào tạo cách khác, mất rất nhiều thời gian.

    Nước Nga có những cơ sở đào tạo tốt lắm, ở nhiều nơi lắm. Trước đây mình đã dự định làm ( nhà máy điện hạt nhân ) rồi không làm nữa, nhưng mình cũng đã đưa người sang đào tạo bên đấy nhiều. Bây giờ cũng lâu rồi, mười mấy năm nay những người đó phân tán đi đâu hết. Nhưng đó cũng chỉ là những người được đào tạo để vận hành lò phản ứng."


    Việt Nam hưởng lợi khi Mỹ-Trung không hòa dịu cũng không đối đầu Oct 12, 2026
    Show notes

    Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung giúp Việt Nam hưởng lợi từ chiến lược “Trung Quốc+1” của các doanh nghiệp nước ngoài. Nhiều doanh nghiệp Trung Quốc cũng chuyển hoạt động kinh doanh sang Việt Nam để “lách” các biện pháp hạn chế xuất khẩu trực tiếp từ Trung Quốc. Tính đến cuối tháng 09/2026, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký tại Việt Nam đạt 50,36 tỷ đô la, tăng 76,4% so với cùng kỳ năm trước.

    Đây là chiến lược ngoại giao đa chiều và tiếp cận đa hướng, “giữ thái độ cởi mở, duy trì hợp tác kinh tế với càng nhiều đối tác càng tốt”, theo nhận định của Ted Osius, nguyên đại sứ Mỹ tại Việt Nam, hiện là nhà đầu tư kiêm cố vấn tại thành phố Hồ Chí Minh, được Bloomberg trích dẫn ngày 11/07/2026. Trong chiến lược này, Việt Nam cố gắng duy trì cân bằng giữa hai cường quốc Mỹ và Trung Quốc, đồng thời là hai đối thủ thương mại. Mỹ giữ vai trò quan trọng vì là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, trong khi Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất, đặc biệt trong lĩnh vực cung cấp thiết bị điện tử.

    Trong cuộc cạnh tranh giữa hai cường quốc, Việt Nam bị chỉ trích là “sân sau” cho hàng Trung Quốc xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ cao nhất trong số các đối tác thương mại của Washington, khiến Mỹ đe dọa áp thuế cao. Gần đây, sau chuyến công tác tới New York của chủ tịch nước Tô Lâm, Hà Nội thông báo hai bên sắp đạt được thỏa thuận về thuế. Trả lời Bloomberg, ông Tô Lâm cho biết Việt Nam cam kết mua thêm các mặt hàng công nghệ cao như máy bay để thu hẹp thâm hụt thương mại. Ông cho rằng “hoạt động xuất khẩu của Việt Nam phù hợp với nhu cầu của Mỹ và không cạnh tranh trực tiếp với các sản phẩm của Hoa Kỳ”.

    Đọc thêmViệt Nam : Tổng bí thư, chủ tịch nước Tô Lâm chuẩn bị một vòng công du Âu – Mỹ

    Ngay sau đó, tổng thống Mỹ Donald Trump trải thảm đỏ, đón tiếp trọng thị chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Hai nước cũng gia hạn đình chiến thương mại. Liệu những dấu hiệu hòa hoãn này có lợi cho Hà Nội hay không ?

    Trả lời RFI Tiếng Việt, tiến sĩ Vũ Khang, chuyên nghiên cứu về Việt Nam, học giả thính giảng tại Khoa Chính trị học Đại học Boston tại Hoa Kỳ, nhận định Hà Nội chỉ có thể hưởng lợi khi mối quan hệ của hai đại cường Trung Quốc và Mỹ không quá hòa dịu cũng không quá đối đầu.

    RFI : Trong chuyến công du Mỹ từ ngày 23-25/09 của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, tổng thống Donald Trump có nhiều cử chỉ hòa dịu. Nếu Washington và Bắc Kinh tiếp tục xu hướng hòa dịu, điều đó sẽ làm thay đổi bài toán cân bằng chiến lược của Hà Nội như thế nào ? Việt Nam sẽ có thêm dư địa hay là gặp nhiều thách thức hơn trong việc thúc đẩy quan hệ với Hoa Kỳ ?

    Tiến sĩ Vũ Khang : Quan hệ Mỹ-Trung có ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam. Nền tảng chính sách này dựa vào một trật tự thế giới mở, nơi mà các cường quốc tôn trọng quyền lợi của các nước nhỏ và luật pháp quốc tế. Việt Nam không muốn một lần nữa bị đẩy vào thế bị động nếu như Mỹ và Trung Quốc bắt tay nhau và chia nhỏ thế giới thành các khu vực ảnh hưởng riêng biệt hoặc là hai nước này nổ ra một xung đột và bắt buộc Việt Nam phải chọn phe.

    Việt Nam được hưởng lợi nhiều nhất khi mà quan hệ Mỹ-Trung không quá thân thiện hay là cũng không quá thù địch. Trong trường hợp này, Việt Nam có thể hưởng lợi từ chuyển dịch vốn và nhà máy từ Trung Quốc và vẫn có thể duy trì được quyền tiếp cận thị trường Mỹ.

    Đọc thêmViệt Nam cố giữ cân bằng trong quan hệ với Mỹ và Trung Quốc

    Do vậy, việc Mỹ-Trung xoa dịu trong thời điểm áp lực thương chiến và địa-chính trị vấn đề Đài Loan đang ngày càng gia tăng sẽ giúp Việt Nam có thêm dư địa để giữ cả quan hệ với Trung Quốc và Mỹ ổn định. Và tất nhiên, từ góc nhìn của Việt Nam, việc hai nước này có mối quan hệ thân thiết với Hà Nội vẫn là điều ưu tiên trên hết.

    RFI : Tổng bí thư-chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm cũng có chuyến công tác New York từ ngày 20 đến 23/09. Chuyến đi của ông Tô Lâm có tạo ra được bước đột phá mới trong quan hệ Việt - Mỹ ?

    Vũ Khang : Chuyến đi của tổng bí thư-chủ tịch nước Tô Lâm đến Mỹ tiếp tục khẳng định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ của Việt Nam và trong đó, Mỹ là một đối tác rất là quan trọng. Nếu nhìn vào lịch trình của ông Tô Lâm, một trong những chủ đề thảo luận chính lần này chính là mức thuế quan mà Mỹ có thể áp đặt lên Việt Nam.

    Theo số liệu từ Cục Hải quan Việt Nam, chỉ trong 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã đạt mức thặng dư vượt trên 100 tỷ đô la Mỹ, tăng gần 23% so với cùng kỳ năm trước. Và mức thặng dư này đã đẩy Việt Nam lên vị trí số 1, cao hơn cả những đối tác thương mại lớn khác của Mỹ như là Trung Quốc, Mêhicô, Đài Loan về thâm hụt thương mại.

    Đọc thêmĐối tác châu Á giúp Việt Nam tạo thế cân bằng với nhà đầu tư phương Tây

    Ngoài vấn đề thuế quan, ông Tô Lâm cũng bày tỏ mong muốn doanh nghiệp Mỹ hỗ trợ Việt Nam đào tạo chuyên môn để có thể giúp Việt Nam tăng vị trí cao hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu và Mỹ sẽ tiếp tục mở rộng thị trường cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Đổi lại, Việt Nam vẫn sẽ sẵn sàng nhập khẩu sản phẩm công nghệ và dịch vụ từ Mỹ để làm giảm thâm hụt thương mại giữa hai bên. Tuy vậy, hiện giờ vẫn chưa có một thỏa thuận thuế quan nào đạt được giữa Mỹ và Việt Nam.

    RFI : Liệu sau chuyến công du này, vấn đề thuế quan Mỹ đối với Việt Nam sẽ tiến triển như thế nào trong thời gian tới ?

    Vũ Khang : Việt Nam mong muốn biến vấn đề thuế quan trở thành một lĩnh vực đôi bên cùng có lợi. Việt Nam muốn gia tăng giá trị sản phẩm xuất khẩu, đổi lại Mỹ có thể bán được nhiều hàng hóa và dịch vụ cho Việt Nam hơn. Tuy vậy, chính sách thuế quan của tổng thống Donald Trump nói chung lại luôn đặt quyền lợi của Mỹ lên trên hết, bất chấp ảnh hưởng tới hình ảnh hoặc là lòng tin của các đồng minh và đối tác đối với Mỹ.

    Việc tổng thống Trump sẵn sàng đánh thuế quan lên tất cả các đồng minh lâu năm cho thấy sự tương đồng về lợi ích chiến lược chưa chắc đã bảo đảm một mức thuế quan hợp lý cho cả hai bên. Chính sự khó đoán này khiến việc đạt được một thỏa thuận thuế quan rất là khó khăn đối với Việt Nam bởi vì nếu như lợi ích chiến lược hội tụ không thể bảo đảm cho một thỏa thuận thuế quan hợp lý thì chúng ta không có những cơ sở để đoán là Mỹ có thể áp đặt thuế quan một cái mức chấp nhận được.

    Đọc thêmBa cuộc điều tra của Mỹ và tác động đến thương mại với Việt Nam

    Và khó khăn hơn cho Việt Nam là việc Việt Nam luôn bị đẩy vào thế chống đỡ, kể cả khi Tòa án Tối cao đã bác bỏ mức thuế quan 20% mà Mỹ áp đặt đối với Việt Nam, bởi vì chính sách của tổng thống Trump phần lớn rất là khó đoán. Nếu nhìn rộng hơn về vấn đề thuế quan và quan hệ tay ba Mỹ, Việt Nam và Trung Quốc, chúng ta có thể thấy Việt Nam hoàn toàn không muốn bị đặt vào một tình thế phải chọn một trong hai.

    Nếu như Mỹ đặt điều kiện Việt Nam ngả về Mỹ để đổi lại một mức thuế quan thấp thì Việt Nam sẽ ngay lập tức đối diện áp lực từ Trung Quốc khi mà Bắc Kinh cũng đã cảnh cáo các quốc gia không nên theo phe Mỹ để phân tách kinh tế khỏi Trung Quốc trong trường hợp mà Mỹ sử dụng thuế quan để đạt được mục đích đó. Đối với Việt Nam, chọn bên nào cũng sẽ bất lợi.

    RFI : Vậy đâu là những khác biệt và trở ngại trong quan hệ Việt - Mỹ hiện nay, bất chấp lợi ích chiến lược ngày càng hội tụ giữa hai nước ?

    Vũ Khang : Vào đầu tháng 7 năm nay, tàu sân bay Mỹ George Washington đã ghé thăm cảng Đà Nẵng. Chuyến thăm này cho thấy hai quốc gia vẫn có những lợi ích chung, như là duy trì môi trường hòa bình ổn định dựa trên luật pháp quốc tế ở Biển Đông bất chấp những bất đồng về thuế quan.

    Đọc thêmLần đầu tiên từ ba năm qua, một tàu sân bay Mỹ thăm Việt Nam

    Cũng có những tin đồn là Việt Nam sẽ mua vũ khí sát thương từ Mỹ như máy bay F-16, máy bay vận tải C-130 hay là trực thăng S-92. Nếu như Việt Nam mua vũ khí của Mỹ trong thời gian sắp tới thì đây sẽ là một mũi tên trúng hai mục đích. Thứ nhất, Việt Nam vừa có thể hiện đại hóa và đa dạng hóa nguồn cung vũ khí khỏi Nga. Thứ hai, Việt Nam vừa có thể làm giảm thâm hụt thương mại với Mỹ.

    Tuy vậy, vẫn có những khác biệt rất lớn về kỳ vọng của mối quan hệ Việt - Mỹ bất chấp những lợi ích chiến lược ngày càng hội tụ. Trong khi Mỹ mong Việt Nam có thể tham gia một liên minh chống Trung Quốc hay là ít nhất là ngả về phía Mỹ thì Việt Nam vẫn chỉ coi Mỹ là một trong nhiều đối tác chiến lược toàn diện của mình và vẫn mong muốn duy trì chính sách đối ngoại « Bốn Không », bao gồm Việt Nam sẽ không đứng về phía nước này để chống lại nước kia hoặc là Việt Nam sẽ không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự ở trên lãnh thổ của mình.

    Đọc thêmViệt Nam và Hoa Kỳ, những đồng minh tình thế ?

    Chính sự chênh lệch về kỳ vọng trong mối quan hệ này có thể dẫn tới những bất đồng chính sách về Trung Quốc giữa Mỹ và Việt Nam. Trong hoàn cảnh xấu nhất, Mỹ hoàn toàn có thể trả đũa Việt Nam nếu như Washington thất vọng về việc lôi kéo Hà Nội vào một liên minh chống Trung Quốc không thành. Những biện pháp trả đũa đó có thể đến từ thuế quan hay là những cấm vận về kinh tế nếu như Hà Nội không cải thiện về hồ sơ nhân quyền mặc dù là Mỹ và Việt Nam đã có những đối thoại về sự khác biệt về những vấn đề này.

    RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Vũ Khang, học giả thính giảng tại Khoa Chính trị học Đại học Boston tại Hoa Kỳ.


    Hợp tác về công nghệ lượng tử giữa Việt Nam và Pháp: Con đường còn dài Oct 05, 2026
    Show notes

    Hợp tác về công nghệ lượng tử giữa Việt Nam và Pháp, đặc biệt là với Khu đô thị khoa học công nghệ Paris-Saclay, đang trở thành trọng tâm trong quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện giữa Hà Nội và Paris, trong bối cảnh Việt Nam muốn đưa công nghệ lượng tử vào nhóm công nghệ chiến lược quốc gia.

    Công nghệ lượng tử được coi là một trong những trụ cột chiến lược quan trọng nhất của kỷ nguyên công nghệ mới, với tiềm năng tạo ra đột phá trong an ninh mạng, tài chính, y tế, năng lượng, vật liệu mới và trí tuệ nhân tạo (AI). Công nghệ lượng tử cũng mang ý nghĩa chiến lược đối với quốc phòng, an ninh, kinh tế số và năng lực cạnh tranh quốc gia.

    Do các tiềm năng to lớn đó, nhiều quốc gia như Pháp, Nga, Mỹ, Liên Hiệp Châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản… đã đầu tư hàng tỷ đôla vào nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa các nền tảng tính toán lượng tử, truyền thông lượng tử và cảm biến lượng tử.

    Trong chuyến thăm chính thức nước Pháp ( 10 và 11/09/2026 ), khi gặp tổng thống Emmanuel Macron, tổng bí thư đảng Cộng sản kiêm chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm đã đề nghị Paris “hỗ trợ Việt Nam từng bước phát triển công nghệ lượng tử.” Trong chuyến đi này, ông Tô Lâm đã đến thăm Paris-Saclay là thung lũng công nghệ và khu đô thị khoa học hàng đầu của Pháp, cụ thể là đã đến thăm Ủy ban Năng lượng nguyên tử Pháp (CEA) và trung tâm nghiên cứu của tập đoàn công nghệ Thales, để thúc đẩy hợp tác giữa hai nước về công nghệ. Khả năng hợp tác về công nghệ lượng tử đã được nêu lên trong cuộc gặp giữa lãnh đạo Việt Nam với các nhà khoa học gốc Việt làm việc tại Paris - Saclay, trong đó có giáo sư Lại Ngọc Điệp, hiện giảng dạy tại École Normale Supérieure Paris-Saclay, Đại học Paris-Saclay.

    Trả lời RFI Việt ngữ qua điện thoại ngày 19/09/2029, giáo sư Lại Ngọc Điệp trước hết giải thích về tầm quan trọng của công nghệ lượng tử:

    “Công nghệ lượng tử những năm gần đây được nói rất nhiều ở các nước đã phát triển rồi và các nước như Việt Nam thì cũng bắt đầu phải nói đến, bởi vì công nghệ lượng tử là một cái gì đó rất mới, có những tính chất rất ưu việt so với các công nghệ “cổ điển”. Ví dụ như máy tính lượng tử hay truyền thông lượng tử dựa vào tính chất vật lý lượng tử nên thao tác tính toán sẽ nhanh hơn rất nhiều so với các máy tính cổ điển.

    Thực ra bản chất thì hiệu ứng lượng tử đã xuất hiện ở trong các công nghệ trước đây, như laser hay là các pin Mặt trời, v.v… Tuy vậy, các hiệu ứng đấy xảy ra ở trạng thái là một tập hợp nhiều hạt. Cho nên các hiệu ứng lượng tử đặc biệt thì lại không được sử dụng và quan sát được. Ngày nay, dựa trên công nghệ khoa học tiên tiến, người ta có thể thao tác các hạt vật chất ở cấp độ nhỏ nhất có thể. Ví dụ như người ta nói đến nguyên tử, hay nói đến một hạt electron, hay là ánh sáng thì người ta nói đến một hạt photon.

    Khi mà công nghệ cho phép thao tác ở một hạt cơ bản như vậy thì chúng ta sẽ khai thác được hiệu ứng lượng tử. Và như vậy chúng ta có thể tạo được các sản phẩm gọi là lượng tử, ví dụ như máy tính lượng tử hay truyền thông lượng tử.

    Ở các nước phát triển, người ta đã có những nền tảng về mặt lý thuyết, cũng như là công nghệ cho phép họ thực hiện được các sản phẩm lượng tử như vậy, chẳng hạn như Pháp có rất nhiều người được giải Nobel về lượng tử, có rất nhiều phòng thí nghiệm. Cho nên, khoảng 10 năm trở lại đây thì họ đã có những start-up để đưa ra các sản phẩm lượng tử, như máy tính lượng tử hay truyền thông lượng tử.

    Máy tính lượng tử là một máy tính mà về mặt lý thuyết ưu việt so với máy tính cổ điển, tức là nó có thể giải quyết được các bài toán lớn mà máy tính cổ điển phải dùng đến cả 500 năm thì bây giờ máy tính năng tử nó sẽ cho cho phép giải quyết trong vòng vài phút hoặc vài giờ. Nhưng tính ưu việt đấy chỉ giải quyết các bài toán lớn, ví dụ như dự báo thời tiết, sản xuất thuốc, hay điều trị bệnh cần phải có một số lượng tính toán khổng lồ và cần một thời gian nhanh thì máy tính lượng tử sẽ phát huy được tính ưu việt.

    Về truyền thông thì chúng ta biết là ngày nay internet đã phát triển rất mạnh và có lẽ là trao đổi cũng rất là thuận tiện. Nhưng truyền thông hiện tại là truyền thông “cổ điển”, tức là nếu ai đấy muốn nghe thông tin mà chúng ta trao đổi thì người ta hoàn toàn có thể nghe được. Khi chúng ta truyền tải thông tin thông qua internet thì thực ra là chúng ta đang làm các qubit vào các chùm laser, mỗi một qubit như vậy sẽ được thể hiện thông qua hàng tỷ photon. Nếu ai đấy muốn nghe trộm thì chỉ cần ngắt 1.000 photon là có thể đọc được thông tin chúng ta truyền tải, mà đối tác của chúng ta hoàn toàn không biết là có người nghe trộm. Truyền thông cổ điển là truyền thông thực ra không bảo mật.

    Một số ngành nghề có nhu cầu truyền thông bảo mật hơn, như quân đội, công an, hay một số ngành nghề khác. Lúc ấy lượng tử phát huy được thế mạnh, bởi vì truyền thông bằng phương pháp lượng tử tức là thay vì gửi một tỷ photon cho một qbit, thì bây giờ chúng ta sẽ gửi một photon thôi. Photon là hạt cuối cùng của ánh sáng rồi nó không thể được chia đôi nữa, vì vậy khi chúng ta dùng một photon để truyền tải một qbit đi, nếu có ai đấy nghe trộm chúng ta hoàn toàn biết được là thông tin của chúng ta đã bị lộ.

    Công nghệ lượng tử hiện được Việt Nam xếp vào nhóm công nghệ chiến lược quốc gia, theo danh mục hồi tháng 5 của Chính phủ. Hệ sinh thái lượng tử trong nước cũng đang hình thành, với Mạng lưới đổi mới sáng tạo và chuyên gia công nghệ lượng tử Việt Nam (VNQuantum) thành lập tháng 8/2025, kết nối nhà khoa học, trường đại học, doanh nghiệp và các công ty khởi nghiệp start - up. Về tiềm năng phát triển công nghệ lượng tử ở Việt Nam, giáo sư Lại Ngọc Điệp nhận định:

    “Có lẽ Việt Nam sẽ gặp khó khăn, bởi vì bao nhiêu năm chúng ta đã không có điều kiện để làm nghiên cứu sâu, cho nên có rất nhiều lĩnh vực mà chúng ta thua kém các nước phát triển. Riêng về lượng tử thì lại càng kém hơn, bởi vì đó là một môn vật lý khó khăn hơn, thế hệ trẻ cũng không học nhiều, thành ra chúng ta bây giờ thiếu gần như ở tất cả các công đoạn, thiếu về công nghệ lõi, không có các phòng thí nghiệm, trang thiết bị, dây chuyền sản xuất và ngay cả nhân lực cũng không có.

    Bây giờ muốn tham gia cuộc chơi này, chúng ta phải có một kế hoạch làm việc rất bài bản, để sau 5, năm 10 năm có thể bắt kịp với thế giới, để tham gia cuộc đua lượng tử và sau đấy thì sẽ mang các ứng dụng lượng tử đấy vào các ngành nghề.

    Vậy thì Pháp nói chung và trung tâm công nghệ Paris-Saclay nói riêng có thể hỗ trợ như thế nào cho Việt Nam phát triển ngành công nghệ lượng tử ? Giáo sư Lại Ngọc Điệp nhấn mạnh là trong lĩnh vực này, Việt Nam phải tự lực nhiều hơn:

    Nếu nói về tham gia con đường lượng tử thì Việt Nam cũng không phải là bắt đầu bằng con số 0. Chúng ta rất mạnh về mảng lý thuyết, tính toán. Tức là nhiều người làm về toán học, về lý thuyết, hoặc là tin học của Việt Nam đang tham gia vào chuỗi lượng tử này và làm rất mạnh ở phần tính toán. Thế nhưng, phần thực nghiệm, mà Việt Nam gọi là công nghệ lõi, thì chúng ta Việt Nam lại không có những phòng thí nghiệm lượng tử, cũng như không có nhân lực về thực nghiệm.

    Riêng về mặt này thì Pháp lại rất mạnh, bởi vì Pháp đã có nền khoa học phát triển rất lâu đời về mặt lý thuyết cũng như thực nghiệm. Vật lý lượng tử phát triển rất mạnh ở các cấp độ, từ trường đại học cho đến các trung tâm nghiên cứu và nằm rải rác trên toàn nước Pháp.

    Thế nhưng, ở Pháp có lẽ có hai cực rất mạnh về lượng tử, được thể hiện qua các giải Nobel chẳng hạn như cực Paris - Saclay hiện đang xếp số 13 của thế giới. Cực thứ hai nằm ở trong Paris cũng đã từng đoạt giải Nobel và cũng phát triển về lượng tử rất mạnh.

    Paris- Saclay rất là mạnh bởi vì họ đã có hai, ba giải Nobel liên quan đến lượng tử. Ngoài các giải Nobel ra thì các nhóm nghiên cứu rất là mạnh và họ đã chuyển thành các start-up ( công ty khởi nghiệp). Nếu nói về máy tính lượng tử thì là đã có hai start-up thuộc đại học Paris - Saclay là Quandela, máy tính lượng tử dựa trên công nghệ photon, và cái công ty thứ hai là Pasqal, sản xuất máy tính điện tử dựa trên công nghệ nguyên tử.

    Đại học Paris-Saclay rất mạnh cả về nghiên cứu cũng như công nghệ, khi tổng bí thư - chủ tịch nước sang thăm Pháp thì không có lý do gì lại không thăm và trao đổi với đại học Paris-Saclay, nhờ họ giúp đỡ để chúng ta có thể học tập và sau này có thể phát triển, làm việc với họ. Thế nhưng, chuyến thăm của tổng bí thư do thời gian hơi ngắn nên một số dự định ban đầu đã không được thực hiện. Tổng bí thư có gặp một số đơn vị như là Thales hay CEA ( Ủy ban Năng lượng Nguyên tử ) hay Viện Bách Khoa Paris, nhưng họ không đề cập đến công nghệ lượng tử, chỉ đề cập đến những vấn đề khác như năng lượng, không gian hay AI ( trí tuệ nhân tạo ).

    Thực ra một cuộc gặp về công nghệ lượng tử đã được lên kế hoạch nhưng không thực hiện được. Chỉ có trong cuộc gặp của tổng bí thư với lại 7 chuyên gia gốc Việt ở Pháp, chúng tôi có trao đổi với tổng bí thư cùng với các cán bộ cao cấp là chúng ta có những người Việt làm việc về lĩnh vực lượng tử này, cũng như là nhiều đối tác của Pháp cũng rất là nhiệt tình đối với khoa học Việt Nam nói chung và đối với công nghệ lượng tử nói riêng. Chúng ta nên tận dụng đội ngũ khoa học gốc Việt, cũng như sự hợp tác của Pháp trong lĩnh vực lượng tử để có thể phát triển khoa học lượng tử trong nước, mà thực ra là phát triển công nghệ lõi, tức là thực nghiệm cũng như đào tạo con người. Pháp cũng coi lượng tử là một công nghệ chiến lược và họ đầu tư khá nhiều tỷ euro cho việc phát triển công nghệ này. Vì vậy họ cũng chỉ có thể giúp đỡ chúng ta ở một phần nào đấy, tức là có thể giúp đào tạo nghiên cứu sinh hoặc là đào tạo master.

    Tôi nghĩ rằng Việt Nam, như cuộc trao đổi của chúng tôi với tổng bí thư, phải phát triển công nghệ lượng tử một cách độc lập, tự lực, bằng chính con người của Việt Nam, hoặc tận dụng nguồn trí thức Việt Kiều, những người tâm huyết muốn phát triển công nghệ đó cho Việt Nam.

    Như giáo sư Lại Ngọc Điệp có nói ở trên, trong số hai start-up ở Paris-Saclay, có công ty Quandela chuyên phát triển công nghệ máy tính lượng tử sử dụng photon. Theo báo chí Việt Nam, trong khuôn khổ chuyến thăm Pháp của ông Tô Lâm, lãnh đạo tỉnh Gia Lai đã đến tham quan nhà máy sản xuất công nghệ lượng tử của Quandela, tìm kiếm cơ hội hợp tác trong lĩnh vực lượng tử. Chuyến thăm diễn ra ngay trước thời điểm triển khai máy tính lượng tử quang tử Âu Cơ, dự kiến được thiết lập tại Trường Đại học Quang Trung (QTU), tỉnh Gia Lai, thông qua hợp tác giữa Quandela và với công ty khởi nghiệp Quanova của Việt Nam, với sự hỗ trợ tài chính của Nam Á Bank.

    Thỏa thuận hợp tác giữa Quandela và Quanova đã được chính thức hóa trong khuôn khổ Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam – Pháp, nhân chuyến thăm Pháp của tổng bí thư, chủ tịch nước Tô Lâm. Theo thỏa thuận, Quanova đóng vai trò là nhà tích hợp chiến lược cho Quandela tại thị trường Việt Nam, dựa trên nền tảng đã được triển khai giữa Quandela và các đối tác Việt Nam. Một trong những sáng kiến cụ thể đầu tiên trong khuôn khổ hợp tác với Quanova là chương trình đào tạo công nghệ lượng tử tại Trường Đại học Quang Trung.

    Quanova sẽ đại diện cho Trường Đại học Quang Trung (QTU) và Nam A Bank hợp tác cùng Quandela triển khai các hoạt động phát triển, tích hợp và thương mại hóa các giải pháp dựa trên công nghệ tính toán lượng tử quang học.


    Úc giúp Việt Nam phát triển công nghệ chiến lược Sep 28, 2026
    Show notes

    Úc và Việt Nam tăng cường hợp tác trong 3 lĩnh vực trọng điểm: Khai thác khoáng sản thiết yếu, công nghệ bán dẫn và công nghệ mới nổi, xây dựng chuỗi cung ứng chip. Đây cũng là những nội dung chính trong kế hoạch 10 nhóm công nghệ chiến lược nhằm nâng cao năng lực tự chủ của Việt Nam. Úc nổi tiếng về công nghệ khai khoáng và vị thế cường quốc tầm trung, tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam hợp tác mà không chịu áp lực phải “chọn phe” giữa Mỹ và Trung Quốc.

    Tuyên bố chung về nâng cao sức chống chịu kinh tế và Tuyên bố tầm nhìn kết nối khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo, được ký nhân chuyến công du Úc của tổng bí thư-chủ tịch nước Tô Lâm vào tháng 08/2026, mở ra “tiềm năng rất lớn”.

    Trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt, tiến sĩ Nguyễn Thế Phương, chuyên ngành an ninh hàng hải, Đại học New South Wales, Canberra, Úc, nhận định hai tuyên bố trên “bao hàm yếu tố khai thác khoáng sản đất hiếm và chuyển giao công nghệ”.

    Khai thác khoáng sản thiết yếu

    Khoáng sản thiết yếu được đặc biệt chú trọng do nhu cầu chung gia tăng và Việt Nam thúc đẩy chuyển đổi số, công nghệ xanh. Nghị định ngày 02/07/2025 liên quan đến Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Địa chất và Khoáng sản nêu rõ : “Khoáng sản chiến lược quan trọng gồm khoáng sản phóng xạ, đất hiếm và các khoáng sản thiết yếu khác phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững và tăng cường quốc phòng, an ninh của đất nước”. (1)

    Việt Nam có trữ lượng lớn khoáng sản quý hiếm, đặc biệt trữ lượng đất hiếm đứng thứ 6 thế giới (3,5 triệu tấn), nhưng chưa được khai thác hiệu quả. Tuy nhiên, triển vọng đang mở ra khi Việt Nam và Úc thúc đẩy hợp tác “khai thác khoáng sản thiết yếu”. Đây là yếu tố đầu tiên trong “ba mảng hợp tác” song phương, theo giải thích của tiến sĩ Nguyễn Thế Phương :

    “Khai thác khoáng sản thiết yếu sẽ tập trung vào ba điểm. Trước tiên là đầu tư và chuyển giao công nghệ chế biến sâu. Hai nước sẽ cố gắng là đẩy mạnh thu hút các tập đoàn lớn của Úc trong lĩnh vực tài nguyên khoáng sản đầu tư vào Việt Nam trong các dự án thăm dò, khai thác, đặc biệt là chế biến sâu các khoáng sản tại Việt Nam thay vì Việt Nam chỉ xuất khẩu quặng thô.

    Thứ hai, Úc sẽ hỗ trợ Việt Nam xây dựng toàn bộ quá trình áp dụng các tiêu chuẩn mới và quá trình truy xuất nguồn gốc. Tại vì như chúng ta biết, lĩnh vực khai thác, cũng như xuất khẩu các loại khoáng sản, đặc biệt là đất hiếm trên thế giới, hiện giờ bây giờ là lĩnh vực cạnh tranh mà muốn tham gia vào toàn bộ quy trình này ở mức độ toàn cầu thì phải có tiêu chuẩn kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc minh bạch. Do đó, Úc sẽ là nước hỗ trợ Việt Nam trong việc xây dựng toàn bộ hệ thống quy chuẩn này, giúp cho Việt Nam có đủ điều kiện tham gia vào chuỗi công ứng công nghệ cao do Mỹ dẫn dắt.

    Đọc thêmBang giao Úc-Việt: 63 năm nhìn lại

    Điểm thứ ba là cả hai bên sẽ thiết lập cơ chế đối thoại cấp bộ trưởng về năng lượng khoáng sản. Cơ chế này sẽ triển khai định kỳ. Thông qua cơ chế này, hai bên mong muốn là sẽ gỡ bỏ các rào cản chính sách, hỗ trợ doanh nghiệp hai bên kết nối và xây dựng chuỗi cung ứng khoáng sản tự chủ và minh bạch. Đây là điểm mà chưa nước nào có, mới chỉ có Úc và Việt Nam có. Đây là những vấn đề liên quan đến khoáng sản thiết yếu”.

    Đây là điểm được nêu trong “Chiến lược địa chất, khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được công bố ngày 01/04/2023, với những nhiệm vụ trọng tâm : Đẩy mạnh điều tra, thăm dò, đánh giá, xác định trữ lượng và tài nguyên đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội ; cập nhật, đồng bộ quy hoạch và cơ sở dữ liệu; tăng cường quản lý tài nguyên, cấp phép và kiểm soát hoạt động khai thác, bảo đảm khai thác tiết kiệm, hiệu quả ; phát triển công nghệ chế biến sâu, nâng cao giá trị khoáng sản, ứng dụng thiết bị hiện đại, tái chế, giảm chất thải, bảo vệ môi trường ; ưu tiên khoáng sản chiến lược ; bảo đảm nguồn nguyên liệu trong nước, an ninh quốc gia và phát triển bền vững. (2)

    Công nghệ bán dẫn và công nghệ mới nổi

    Mảng hợp tác thứ hai sẽ là công nghệ bán dẫn và công nghệ mới nổi. Ngày 30/04/2026, Việt Nam công bố Danh mục công nghệ chiến lược, gồm 10 nhóm, trong đó có công nghệ số, năng lượng và vật liệu tiên tiến, chip bán dẫn… và hàng loạt sản phẩm công nghệ chiến lược trọng điểm như : AI, chip bán dẫn, hydrogen xanh, công nghệ lượng tử, vệ tinh quỹ đạo thấp nhằm thúc đẩy tự chủ công nghệ. (3)

    Việt Nam cũng đề ra chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, tầm nhìn 2050, theo đó mục tiêu đến 2050 có 300 công ty thiết kế, 3 nhà máy chế tạo chip, 20 nhà máy đóng gói và kiểm thử (OSAT), đào tạo hơn 100.000 kỹ sư/cử nhân ngành bán dẫn. (4) Lộ trình được chia thành ba giai đoạn : Giai đoạn 1 (2024-2030) : Hình thành nền tảng, thu hút FDI, phát triển nhân lực ; Giai đoạn 2 (2030-2040) : Trở thành trung tâm công nghiệp bán dẫn - điện tử toàn cầu ; Giai đoạn 3 (2040-2050) : Là nước đi đầu, làm chủ R&D trong bán dẫn. Úc sẽ hỗ trợ Việt Nam như thế nào trong quá trình này ? Tiến sĩ Nguyễn Thế Phương giải thích :

    “Úc cũng là một quốc gia đóng vai trò tác nhân kết nối các hệ sinh thái công nghệ của cả hai bên. Điểm này liên quan đến những yếu tố, ví dụ đào tạo nguồn nhân lực, thúc đẩy Trung tâm Công nghệ Chiến lược Việt-Úc. Đây là giai đoạn hai và sẽ tập trung vào một số loại công nghệ, ví dụ như là trí tuệ nhân tạo, điện toán lượng tử và mạng viễn thông thế hệ mới. Chúng ta biết là Úc là quốc gia nói tiếng Anh và có hệ thống các trường đại học đào tạo đứng top đầu thế giới, gần Việt Nam. Cho nên Việt Nam mong muốn trở thành một hub đào tạo để Việt Nam có thể tiếp cận các loại công nghệ mới.

    Đọc thêmÚc và Việt Nam nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện

    Điểm thứ ba là xây dựng chuỗi cung ứng chip. Việt Nam hiện tại đang đóng góp vai trò là trung tâm đóng gói kiểm thử và sản xuất cho hệ sinh thái chip. Trong khi Úc có thể bảo đảm nguồn nguyên liệu đầu vào tại vì Úc có các loại khoáng sản rất quan trọng : silicon, lithium, kim loại hiếm và Úc có nền tảng thiết kế chip cũng tương đối ổn. Đó là về công nghệ bán dẫn, công nghệ mới nổi”.

    Trung tâm Công nghệ Chiến lược Việt-Úc (AVSTC) được thành lập ngày 11/06/2025 nhằm thúc đẩy hợp tác trong các công nghệ mới và trọng yếu, tạo điều kiện đổi mới sáng tạo, tăng cường khả năng chống chịu trước các mối đe dọa mạng trên toàn cầu. Giai đoạn II của Trung tâm Công nghệ Chiến lược Úc-Việt đã được công bố tháng 08/2026.

    Phát triển năng lượng sạch và chuyển giao công nghệ sạch

    Cả Việt Nam và Úc đều cam kết mạnh mẽ “đạt được phát thải ròng bằng không” vào năm 2050. Theo trang web của chính phủ Úc liên quan đến Viện trợ phát triển tại Việt Nam, chính quyền Canberra cam kết “hợp tác với Việt Nam để hỗ trợ quá trình chuyển đổi năng lượng”. Úc sẽ hỗ trợ chuyển giao công nghệ sạch, theo giải thích của tiến sĩ Nguyễn Thế Phương.

    “Quan hệ song phương thời gian tới sẽ ảnh hưởng vào những điểm như sau : Thứ nhất là phát triển năng lượng tái tạo và hydrogen xanh. Úc có thế mạnh vượt trội về công nghệ điện gió ngoài khơi. Việt Nam đang phát triển về offshore wind - điện gió ngoài khơi, điện mặt trời và hydrogen xanh. Ở mảng này, hai bên sẽ tăng cường hợp tác chuyển giao công nghệ và xây dựng các sàn giao dịch và các dự án sản xuất hydro ammonia tại Việt Nam. Điểm này được nhắc tới trong chuyến thăm của chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm.

    Thứ hai, ngoài năng lực thì cần phải có tài chính. Úc sẽ là nước giúp Việt Nam phát triển “tài chính xanh” và hỗ trợ chuyển giao năng lượng. Úc thông qua các gói viện trợ phát triển cũng như là các quỹ đầu tư tư nhân để giúp Việt Nam hiện đại hóa hạ tầng lưới điện, tăng khả năng hấp thụ nguồn năng lượng tái tạo. Bởi vì ngoài xây dựng nguồn năng lượng phát điện thì đấu nối là điều rất là quan trọng. Nếu không có đấu nối thì cũng không phát huy tối đa được các dự án điện xanh. Trong vòng 5, 6 năm trở lại đây, Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong việc đấu nối. Úc sẽ giúp Việt Nam về mặt tài chính, các quỹ để phát triển lĩnh vực này.

    Đọc thêmViệt Nam phải nhập khẩu than từ Úc để đáp ứng nhu cầu năng lượng

    Phần thứ ba là thương mại năng lượng. Trong ngắn và trung hạn, Úc sẽ bảo đảm cung cấp nguồn khí hỏa lỏng tự nhiên và than sạch ổn định cho Việt Nam, giúp Việt Nam bảo đảm an ninh năng lượng trong quá trình chuyển đổi dần sang nguồn năng lượng xanh. Đây cũng là một điểm khá là quan trọng. Sau xung đột ở eo biển Hormuz, có thể thấy rằng bảo đảm được nguồn cung năng lượng cho nền kinh tế vận hành là một chuyện rất quan trọng và nó không chỉ liên quan tới kinh tế mà còn liên quan tới an sinh xã hội.

    Và một trong những điểm mà Việt Nam ưu tiên trong thời điểm hiện tại là bảo đảm quá trình nhập khẩu năng lượng, cũng như là nguồn cung năng lượng được ổn định. Nền kinh tế với mục tiêu 10%, để đạt được mục tiêu đó thì đảm bảo năng lượng sẽ là một trong cái chiến lược ưu tiên cốt lõi. Và Úc sẽ giúp Việt Nam trong việc bảo đảm, ví dụ về than sạch, khí hóa lỏng. Bởi vì bản thân Úc cũng có trữ lượng lớn các loại khoáng sản này”.

    Tiến sĩ Nguyễn Thế Phương cho rằng với mối quan hệ song phương phát triển tốt đẹp như hiện nay, Việt Nam kỳ vọng rằng Úc sẽ là một đối tác cung cấp những khoáng sản, năng lượng, công nghệ, kiến thức trong việc phát triển lĩnh vực khoa học công nghệ và năng lượng.


    Chiến tranh Trung Đông tác động đến du lịch Việt Nam Sep 21, 2026
    Show notes

    Theo các số liệu chính thức, chỉ trong 8 tháng đầu năm nay (2026), Việt Nam đã tiếp đón gần 16 triệu du khách quốc tế, tăng 14,4 % so với cùng kỳ năm ngoái. Ngành du lịch Việt Nam còn có tham vọng sẽ tiếp đón tổng cộng 25 triệu du khách trong năm nay.

    Thế nhưng, khi trao đổi với RFI Việt ngữ, một số doanh nghiệp tham gia Hội chợ du lịch quốc tế IFTM Top Resa tại Paris ( 15-17/09/2026 ) đều than phiền là số khách của họ, ít ra là từ châu Âu, vẫn chưa tăng trở lại như trước đây, phần lớn là do tác động của chiến tranh Trung Đông.

    Trả lời RFI Việt ngữ tại hội chợ IFTM Top Resa, cô Đào Thị Thùy Linh, giám đốc công ty Asia Viva Travel, được thành lập năm 2019, chủ yếu phục cho du khách châu Âu ( Pháp,Ý, Tây Ban Nha, Bắc Âu…) , cho biết:

    “Con số của Nhà nước là con số ghi nhận khi nhập cảnh và xuất cảnh. Thực tế con số tại các doanh nghiệp thì có một sự sụt giảm, như tại công ty Asia Viva Travel. Chúng tôi có ghi nhận sự sụt giảm nghiêm trọng vào khoảng tháng 2 và tháng 3, thậm chí là tháng 5, tháng 6. Tuy nhiên, từ cuối tháng 6 đến tháng 9/2026, chúng tôi đã ghi nhận sự sôi động trở lại của những giao dịch từ những đơn vị đã chốt đơn cho cuối năm nay và năm sau.

    Thẳng thắn mà nói thì vẫn còn những sụt giảm và vắng vẻ hơn. Khách có xu hướng sẽ chốt sát nút hơn so với trước đây. Trước đây họ có thể chốt từ 3 đến 6 tháng trước, nhưng bây giờ họ có thể chốt tháng trước, tháng sau. Thời gian họ quyết định sẽ sát hơn, tùy thuộc vào chuyến bay, rồi sẽ nhìn vào tình hình quốc tế xem có ổn định chưa thì họ mới quyết định có chốt đi hay không.

    Với khoảng 30, 40 nhân sự khối văn phòng, với các anh chị em hướng dẫn viên, hay những bà con làm ở tuyến điểm, hoặc là chèo đò, lái xe, tôi nghĩ rằng đó là một sự thách thức đối với cả tất cả chúng tôi. Bởi vì tính chất và số lượng tour giảm, thậm chí khách cũng chọn lựa những phương thức tiết kiệm hơn, hoặc là họ dùng AI để có thể tự liên hệ, dẫn đến sụt giảm về việc làm, sụt giảm về kinh doanh. Có thể họ hỏi rất là nhiều, nhưng tỷ lệ chốt đơn lại giảm. Đó là một trong những thách thức để chúng tôi duy trì và vận hành doanh nghiệp của chúng tôi.

    Về phần mình, ông Edouard Georges, chủ tịch công ty lữ hành Phoenix Voyages, giải thích:

    “Chiến tranh Iran đã tác động rõ rệt đến lượng khách đến Việt Nam: Các hãng hàng không vùng Vịnh đã tạm ngưng hoặc cắt giảm chuyến bay, dẫn đến việc lượng du khách châu Âu đến Việt Nam sụt giảm đáng kể. Mọi người cảm thấy lo lắng, bất an khi phải quá cảnh tại Doha, Dubai hay các thành phố khác ở vùng Vịnh để nối chuyến đến Việt Nam. Tình trạng sụt giảm lượng khách này đang ảnh hưởng đến toàn khu vực, bao gồm cả Việt Nam, Cam Bốt và Thái Lan. Chúng tôi đã phải gánh chịu hậu quả từ tháng Hai hoặc tháng Ba. Đến nay, tình hình vẫn chưa thực sự khả quan hơn.Tôi nghĩ tình trạng này sẽ còn kéo dài thêm một thời gian nữa, mặc dù lịch bay đang dần ổn định và chúng tôi kỳ vọng sẽ sớm thấy lại tần suất hai hoặc ba chuyến mỗi ngày, thay vì chỉ một chuyến như hiện nay, đến Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh chẳng hạn.

    Có hai yếu tố tác động ở đây, gồm bối cảnh quốc tế, nhưng cũng cần kể đến yếu tố giá cả. Giá vé máy bay đã tăng mạnh, dù là các chuyến bay thẳng của Vietnam Airlines, hay của các hãng như Singapore Airlines, Thai Airways hoặc Cathay Pacific. Giá vé rất cao, gần như tăng gấp đôi và tất nhiên, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, du khách không còn đủ khả năng chi trả cho những chuyến đi xa như vậy. Thay vào đó, họ chỉ đi du lịch trong phạm vi châu Âu hoặc khu vực Địa Trung Hải, như Maroc, Ai Cập hay Hy Lạp, những điểm đến vẫn phù hợp với ngân sách du lịch của họ, dù giá cả tại đó cũng đã tăng lên.”

    Tuy nhiên, cô Đào Thị Thùy Linh, giám đốc công ty Asia Viva Travel, tỏ vẻ tin tưởng Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn đối với khách quốc tế:

    “Với những chính sách và với những nỗ lực từ chính phủ, từ những doanh nghiệp Việt Nam, hay với những sự kiện để quảng bá và phát triển hơn du lịch của Việt Nam đối với các đối tác trên toàn cầu có mặt tại Top Resa 2026, tôi rất tin tưởng. Qua trao đổi, làm việc và thậm chí là trao đổi rất sâu với một số đối tác thân thiết, họ cũng chia sẻ rằng Việt Nam là một điểm đến mới nổi và rất đa dạng về văn hóa, về ẩm thực, về mọi mặt, với một mức chi phí rất là hợp lý, trong bối cảnh toàn cầu nói chung gặp khó khăn như thế này.

    Ở Việt Nam bây giờ chúng tôi rất tự hào, vì sản phẩm rất đa dạng ở góc độ nghỉ dưỡng, du lịch y tế, thiền, yoga, trekking hay adventure, khám phá, mọi thứ đều có thể gói gọn ở hai chữ “Việt Nam”. Tôi tin đó là một cơ hội rất lớn và rộng mở cho tương lai của chúng tôi.”

    Tuy nhiên, ông Edouard Geroges, giám đốc công ty Phoenix Voyages lưu ý:

    "Tôi cho rằng Việt Nam mắc phải một sai lầm cơ bản, đó là mong muốn đón hàng triệu lượt khách du lịch. Tốt hơn hết là nên chọn lọc kỹ lưỡng hơn và đón ít khách hơn, những khách sẵn sàng chi tiêu nhiều hơn và lưu trú lâu hơn. Chúng ta cần tập trung thu hút những du khách chất lượng cao với thời gian lưu trú dài ngày, thay vì chỉ chạy theo các con số thống kê, tự hào về việc đón 25, 26 hay 30 triệu lượt khách. Xét cho cùng, những con số đó không mang nhiều ý nghĩa. Đó là sự hiểu lầm lớn về du lịch: số lượng đơn thuần không phải là yếu tố quan trọng nhất. Điều thực sự quan trọng là thời gian lưu trú và mức chi tiêu của du khách."

    Cho dù số khách quốc tế đến Việt Nam đang dần tăng trở lại, theo ông Edouard Georges, ngành du lịch Việt Nam cần tạo ra nhiều sản phẩm hơn để giữ chân du khách lâu hơn:

    “Mọi thứ đang dần thay đổi, nhưng chúng ta cần củng cố các sản phẩm và dịch vụ, cải thiện công tác truyền thông và, quan trọng nhất, là quảng bá du lịch Việt Nam theo ba vùng riêng biệt. Chúng ta cần quảng bá miền Bắc vào đúng mùa, làm nổi bật các cơ hội du lịch sinh thái tại đây. Chúng ta cũng cần quảng bá miền Trung, với những bãi biển tuyệt đẹp, vào thời điểm thích hợp, và cả miền Nam, có thể tập trung vào Đồng bằng sông Cửu Long cùng các hành trình đường sông, thậm chí mở rộng sang Cam Bốt. Thông qua quan hệ hợp tác với các nước láng giềng, chẳng hạn, miền Bắc có thể kết hợp rất tốt với Lào trong cùng một mùa du lịch.

    Chúng ta cần tạo ra nhiều sản phẩm hơn nữa để khuyến khích du khách quay trở lại Việt Nam. Bạn có thể dành 15 ngày ở miền Bắc để thăm các cộng đồng dân tộc thiểu số, một trải nghiệm vô cùng đặc biệt, hay ngắm nhìn Vịnh Hạ Long, phải ở lại ba đêm để khám phá trọn vẹn vẻ đẹp phong phú của khu vực này, thong thả tản bộ, đọc sách và chiêm ngưỡng cảnh quan. Hiện nay, du khách thường di chuyển qua Việt Nam quá nhanh. Chúng ta cần chuyển hướng sang mô hình du lịch "chậm", khuyến khích khách hàng và du khách lưu trú lâu hơn cũng như quay trở lại một, hai, ba, thậm chí bốn lần để thực sự củng cố lượng khách du lịch.”

    Vấn đề là ngành du lịch Việt Nam lại đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt trầm trọng cả về số lượng lẫn chất lượng, đặc biệt trong các mùa cao điểm. Theo kết quả khảo sát của Hoteljob.vn (nền tảng tuyển dụng nhân sự hàng đầu trong ngành khách sạn và du lịch Việt Nam), gần 90% doanh nghiệp du lịch cho biết đang có nhu cầu tuyển dụng hoặc thiếu nhân sự. Thường xuyên thiếu nhân lực là trong lĩnh vực lưu trú, như nhân viên lễ tân, nhân viên buồng phòng, đầu bếp và nhân viên phục vụ trực tiếp.

    Cô Đào Thị Thùy Linh, giám đốc công ty Asia Viva Travel ghi nhận:

    “Sau Covid xong thì có rất nhiều người đổi nghề. Có thể họ đã làm quá lâu trong mảng du lịch nên họ muốn trải nghiệm sang một cái mảng mới. Anh em vẫn nói vui trong nghề rằng du lịch là một công việc "tuy vất vả mà được cái nghèo"! Nói vui thế thôi nhưng tôi nghĩ đó là một công việc thú vị.

    Chỉ có là khi mà lượng được đẩy lên quá cao, khi mà con số của năm 2025 là khoảng 21 triệu và chỉ tiêu đề ra cho năm 2026 là 25 triệu, thì nhân sự sẽ phải tăng lên để có thể đủ đáp ứng được những nhu cầu mới, khách hàng mới, những đối tác mới. Theo tôi, đó cũng là một trong các thách thức Việt Nam sẽ phải đối diện và phải cân bằng trong thời gian tới.

    Sự thành công của một tour được quyết định rất nhiều bởi năng lực của guide ( hướng dẫn viên ). Theo tôi đánh giá, với nhu cầu của khách hàng như thế, ở Việt Nam đang bị thiếu một chút về những guide ngôn ngữ hiếm, như tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha, thậm chí tiếng Đức… Đó là một trong những điểm mà tôi thấy sẽ cần một sự phối hợp liên ngành từ chính phủ, từ các trường hay từ bộ Giáo Dục để gia tăng đào tạo, hoặc là có thể áp dụng công nghệ nhiều hơn để tăng cường khả năng phục vụ khách hàng đến với Việt Nam.”

    Về vấn đề này, ông Edouard Georges, chủ tịch công ty lữ hành Phoenix Voyages nêu ý kiến:

    “Việt Nam vẫn sở hữu nguồn nhân lực dồi dào với dân số hơn 100 triệu người. Tuy nhiên, các công việc trong ngành du lịch và khách sạn không thu hút nhiều người, đó cũng là một xu hướng chung trên toàn cầu. Những công việc này thường có mức lương thấp và đòi hỏi thời gian làm việc dài, vì vậy giới trẻ thường hướng đến các lĩnh vực công nghệ cao hoặc công nghệ thông tin, với mong muốn làm ít hơn mà thu nhập lại cao hơn. Ngoài ra còn có tình trạng thiếu hụt nhân sự chất lượng cao, cụ thể là những hướng dẫn viên xuất sắc, vừa giỏi ngoại ngữ vừa có kiến ​​thức sâu rộng về văn hóa và lịch sử đất nước.

    Tôi cho rằng vai trò của hướng dẫn viên đang trải qua một cuộc chuyển đổi toàn diện. Nhờ có công nghệ, như mạng wifi phủ sóng khắp nơi, Google và trí tuệ nhân tạo, khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận thông tin. Du khách hoàn toàn có thể tự mình tìm hiểu các chi tiết về mốc thời gian, các triều đại và những sự kiện lịch sử khác. Hệ quả là vai trò của hướng dẫn viên cần chuyển hướng sang việc hỗ trợ du lịch và cung cấp dịch vụ cá nhân hóa, thay vì duy trì phong cách truyền thống mang tính hàn lâm như chỉ liệt kê các triều đại Việt Nam hay ngày tháng của các trận đánh và cuộc chiến.

    Chúng ta cần suy nghĩ lại về cách đào tạo hướng dẫn viên cũng như cách tiếp cận nghề nghiệp này. Chúng tôi đang phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng để xây dựng những chương trình đào tạo mới, phù hợp với những thay đổi này, nhằm thu hút một thế hệ hướng dẫn viên mới. Các hướng dẫn viên kỳ cựu nói tiếng Pháp đang dần rời bỏ nghề. Tôi đã làm trong ngành 25 năm và biết rõ tất cả họ. Họ có bề dày kinh nghiệm, nhưng giờ đây phần lớn họ đã, hoặc sắp nghỉ hưu. Chúng ta cần chuyển giao thế hệ và đổi mới nghề này một chút.

    Tuy nhiên, đây cũng là một vấn đề nan giải, vì hiện nay ít người còn hứng thú học các ngoại ngữ như tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha hay tiếng Đức. Trước đây, chúng ta có những người Việt từng làm việc tại Cuba hay Đông Đức và nói tiếng Đức hoặc tiếng Tây Ban Nha rất giỏi. Giờ đây, những thế hệ đó đang dần nghỉ hưu. Một số người vẫn làm việc cầm chừng, nhưng không còn hoạt động tích cực trong nghề nữa. Vì vậy, chúng ta cần tìm kiếm những người trẻ có đam mê học ngoại ngữ.

    Tuy nhiên, lại nảy sinh vấn đề về trí tuệ nhân tạo: Chỉ cần nói tiếng Việt vào micro là có thể dịch ngay sang tiếng Pháp hoặc tiếng Tây Ban Nha. Liệu điều này sẽ trở thành chuẩn mực hay chỉ là một xu hướng nhất thời? Dầu sao sự tương tác giữa người với người chắc chắn vẫn là một phần quan trọng khi đến thăm một quốc gia.”


    Tàu săn ngầm “100% made in Vietnam”: Nỗ lực giảm bớt phụ thuộc vào nước ngoài Sep 14, 2026
    Show notes

    Ngày 10/08/2026, Việt Nam đã khởi công đóng mới một tàu hộ vệ săn ngầm do trong nước thiết kế, mà một khi hoàn thành sau khoảng ba năm nữa sẽ là tàu chiến mặt nước lớn nhất của Hải quân Nhân dân Việt Nam (VPN). Tàu này, do Tổng công ty Sông Thu phối hợp Quân chủng Hải quân đóng mới, được mô tả là “tàu hộ vệ chống ngầm đa năng, sản phẩm tàu chiến lớn và hiện đại nhất từ trước đến nay do Việt Nam tự thiết kế, chế tạo”.

    Truyền thông Nhà nước Việt Nam cho biết tàu hộ vệ “100% made in Vietnam”, hiện chưa được đặt tên, sẽ được trang bị radar mảng pha quét điện tử chủ động (AESA), tên lửa phòng không và tên lửa chống hạm tiên tiến do Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) cùng các nhà máy quốc phòng liên kết với tập đoàn này tự nghiên cứu, chế tạo. Như loại tên lửa chống hạm trang bị cho tàu được cho là biến thể hải quân của dòng tên lửa VCM-01.

    Cụ thể hơn, tàu hộ vệ mới này theo dự kiến sẽ được trang bị hệ thống vũ khí nào? Những vũ khí đó có hoàn toàn do Việt Nam sản xuất? Trả lời RFI Việt ngữ ngày 15/08/2026, tiến sĩ Nguyễn Thế Phương, chuyên về an ninh hàng hải và các vấn đề hải quân, Đại học New South Wales, Canberra, Úc, cho biết:

    "Hiện tại vẫn chưa rõ là tàu hộ vệ săn ngầm đa năng mới này có lượng giãn nước bao nhiêu tấn. Nhìn vào hình ảnh cũng như những thông số vũ khí của tàu, các chuyên gia dự đoán lượng giãn nước của tàu này có thể từ khoảng 2.500 tới 3.000 tấn.

    Cũng theo như hình ảnh được bộ Quốc Phòng Việt Nam công bố, tàu hộ vệ tầm 3.000 tấn này được trang bị thứ nhất là một khẩu pháo 76 ly AK-176. Khẩu pháo này sẽ làm nhiệm vụ bảo vệ tàu trước những mục tiêu ở gần. Ngoài ra, bởi vì đây là tàu săn ngầm, cho nên tàu sẽ được trang bị thứ nhất là hai rocket RBU-6000 làm nhiệm vụ chống tàu ngầm. Rocket này cũng đã được trang bị cho các tàu săn ngầm khác mà Việt Nam có trước đây.

    Tàu cũng được trang bị hai ống phóng ngư lôi 533 ly, được đặt ở hai bên mạn tàu và tàu cũng có một cái sàn đáp cho trực thăng săn ngầm Ka-27, hiện đang trong biên chế của Hải quân Việt Nam. Đó là nhóm vũ khí săn ngầm chính. Ngoài ra, đặc biệt là tàu sẽ được trang bị một hệ thống phóng thẳng đứng gồm khoảng 12 bệ phóng thẳng đứng.

    Theo giới chuyên gia quân sự, 12 ống phóng này được trang bị các loại tên lửa phòng không tầm ngắn, cũng do Viettel nghiên cứu phát triển. Ngoài ra, ở đầu và ở đuôi tàu sẽ được trang bị hai tên lửa vác vai phòng không tầm ngắn Igla, cũng là một sản phẩm do Việt Nam phát triển, thông qua những mẫu thiết kế của Nga. Ngoài ra, để chống drone hay tên lửa hành trình tiếp cận tầm gần, tàu cũng được trang bị hai khẩu pháo AK-630 30 ly.

    Đối với chống tàu mặt nước, tàu được trang bị hai bệ 4 x 4 tên lửa hành trình chống tàu. Chắc chắn loại tên lửa được trang bị sẽ là họ tên lửa VCM-01 mà Viettel vừa phát triển và vừa công bố trong khoảng 2 - 3 năm trở lại đây. Mẫu tên lửa hành trình chống tàu này cũng dựa trên nguyên bản là mẫu Kh-35, tên lửa hành trình chống tàu của Nga.

    Ngoài ra, một trong những công nghệ nổi bật là tàu được trang bị loại radar mảng quét điện tử AESA bốn mặt ở trên tháp pháo của tàu. Toàn bộ hệ thống radar này cũng như các radar dẫn bắn và các loại cảm biến trên tàu đều là sản phẩm của Viettel.

    Giới quan sát rất quan tâm tới hệ thống radar và những loại thiết bị vũ khí, đặc biệt là các loại vũ khí chống ngầm và năng lực phát triển hệ thống ống phóng thẳng đứng, bởi vì những trang thiết bị này lần đầu tiên xuất hiện trong một tàu chiến mà Việt Nam hiện có. Ngoài ra còn có hệ thống sonar, bởi vì khi nói tới tác chiến chống ngầm thì không thể thiếu được "hệ thống định vị thủy âm dưới nước".

    Nếu nhìn hình ảnh thì chúng ta thấy tàu chống ngầm cũng có hệ thống sonar. Tuy nhiên chưa rõ là loại sonar mới này sẽ do Việt Nam phát triển hay do nước ngoài phát triển. Nhiều nguồn tôi tiếp cận được thì cho rằng Việt Nam sẽ mua hệ thống sonar này của Pháp, của Thales, tại vì các hệ thống sonar của Thales Việt Nam đã tiếp cận và cũng đã lắp đặt trên các tàu chống ngầm cũ của Việt Nam rồi.

    Ngoại trừ hệ thống sonar và có thể là ngoại trừ tên lửa phòng không, tất cả những thứ khác từ súng cho tới rocket chống ngầm và các loại radar đều là sản phẩm của ngành công nghiệp ttong nước, không chỉ là Viettel, mà còn một số nhà máy của Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng Việt Nam sản xuất ra. Có thể thấy là từ 80 tới 90% các hệ thống vũ khí, radar và các hệ thống vận hành tàu đều là sản phẩm của Việt Nam, dựa trên các thiết kế trước đây đã được kiểm chứng trong quá trình mà Việt Nam vận hành các loại tàu chiến khác nhau.

    Hiện nay, lực lượng tàu chiến mặt nước chủ lực của Hải quân Nhân dân Việt Nam bao gồm bốn tàu hộ vệ tên lửa lớp Gepard 3.9 do Nga chế tạo: Đinh Tiên Hoàng, Lý Thái Tổ, Trần Hưng Đạo và Quang Trung. Chỉ có hai tàu Trần Hưng Đạo và Quang Trung là được trang bị các hệ thống chuyên dụng cho tác chiến chống tàu ngầm. Việt Nam cũng đang vận hành sáu tàu ngầm điện-diesel lớp Kilo, cùng với một số tàu hộ vệ và tàu hộ tống đời cũ hơn do Nga, Ấn Độ và Hàn Quốc chuyển giao.

    Đồng thời, Việt Nam cũng mở rộng việc tự sản xuất các loại tàu tên lửa và tàu tuần tra. Tàu hộ vệ mới được kỳ vọng sẽ tăng cường khả năng của Việt Nam giám sát và ứng phó với các hoạt động trên biển, đặc biệt là tại những vùng biển đang có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc. Nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Phương nhận định:

    "Các loại tàu chiến mới này thứ nhất sẽ đóng vai trò như một phòng thử nghiệm cho việc phát triển các loại công nghệ và vũ khí mới của Hải quân Việt Nam trong tương lai, chứ không hẳn chỉ đóng vai trò tác chiến. Công nghệ mới nào cũng cần phải được thử nghiệm trong huấn luyện cũng như trong các cuộc diễn tập khác nhau, để xem các loại vũ khí mới đó có thực sự nó phù hợp với nhu cầu của con tàu và với mục tiêu tác chiến kỹ chiến thuật trên biển mà Hải quân Việt Nam yêu cầu hay không. Nhiệm vụ quan trọng nhất của tàu này là một phòng thí nghiệm cho các loại vũ khí mới mà Hải quân Việt Nam muốn nghiên cứu chế tạo và sản xuất.

    Nhiệm vụ thứ hai rõ ràng là giải cơn khát về tàu chiến mặt nước của Việt Nam chắc phải từ 5 - 6 năm nay: Tàu chiến mặt nước gần nhất mà Việt Nam mua là của Nga từ 2019. Cho tới nay đây là tàu mặt nước lớn nhất mà Việt Nam tự chủ chế tạo và sản xuất. Trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây, thông qua hợp tác quốc tế và thông qua nỗ lực tự thân, Việt Nam cũng có đóng một số tàu tuần tra nhỏ, một số tàu cho Cảnh sát biển, tàu cứu hộ tàu ngầm, tàu huấn luyện, hoặc một số số tàu logistic khác, nhưng tàu chiến mặt nước từ 2019 đến nay chưa có.

    Trong tương lai, cho tới năm 2030, Việt Nam mong muốn xây dựng được một năng lực tác chiến hải quân hiện đại đủ khả năng răn đe, chống xâm nhập, chống tiếp cận ở Biển Đông, đặc biệt là xung quanh khu vực tranh chấp. Việc sở hữu được một tàu chiến mặt nước có lượng giãn nước lớn, khoảng 3.000 tấn, sẽ giúp Việt Nam cải thiện năng lực tác chiến mặt nước.

    Chưa kể là, nếu như tốc độ đóng tàu này tốt, nếu như những năng lực hải quân, công nghiệp quốc phòng thử nghiệm tốt, thì khả năng sắp tới Việt Nam sẽ xây dựng một mô hình tương đương với mô hình hạm đội của các nước phương Tây. Không lớn bằng mô hình hạm đội đó nhưng cũng đủ để Việt Nam có thể duy trì một lực lượng tác chiến độc lập, cơ động và giúp Việt Nam giải quyết các vấn đề trên biển một cách chủ động hơn."

    Theo nhận định của hãng tin Anh Reuters ngày 12/08, việc đóng mới loại tàu hộ vệ này “đánh dấu một bước tiến nữa trong nỗ lực của Việt Nam nhằm phát triển ngành công nghiệp quốc phòng nội địa và giảm sự phụ thuộc vào các trang thiết bị có nguồn gốc từ Nga”. Hà Nội ngày càng chú trọng phát triển các giải pháp thay thế trong nước, trong bối cảnh các lệnh trừng phạt và sự giám sát quốc tế đối với trang thiết bị quốc phòng Nga gây khó khăn cho việc mua sắm và bảo trì khí tài. Về điểm này, tiến sĩ Nguyễn Thế Phương ghi nhận:

    "Ở thời điểm hiện tại thì ưu tiên của Việt Nam sẽ là phát triển một nền công nghiệp quốc phòng nội địa tự thân, hiện đại, lưỡng dụng và ngày càng bớt phụ thuộc vào các nhà cung cấp vũ khí nước ngoài trong mọi lĩnh vực quốc phòng mà Việt Nam có thể tự nghiên cứu và tự chế tạo vũ khí.

    Quá trình phát triển vũ khí hải quân này đã có từ 10 năm rồi, đặc biệt là từ sau sự kiện Hải Dương 981, Việt Nam bắt đầu dồn nguồn lực vào phát triển công nghiệp quốc phòng, mà công nghiệp đóng tàu chiến là một trong những cấu thành quan trọng của toàn bộ tổ hợp công nghiệp quốc phòng đó. Phải 10 năm sau cho đến bây giờ, chúng ta mới thấy được một số thành tựu nhất định. Vẫn còn rất nhiều thứ phải vượt qua, ví dụ như giới quan sát cũng nói rằng là ngành đóng tàu Việt Nam vẫn chưa có tự chủ được hoàn toàn 100%. Hay là hệ thống động cơ của con tàu mới, Việt Nam cũng vẫn chưa có đủ năng lực để chế tạo hệ thống động cơ hộp số và động cơ vận hành con tàu. Nhiều nguồn tin nói là Việt Nam sẽ không mua hệ thống động cơ từ Nga, mà sẽ mua động cơ từ Đức cho tàu mới này. Nó cũng cho thấy tư duy của Việt Nam là không một quốc gia nào có thể trở thành một đối tác đóng vai trò quá lớn. Đây cũng là bài học mà Việt Nam rút ra được từ cuộc chiến Nga-Ukraina.

    Những yếu tố mang tính cải thiện năng lực của toàn bộ chuỗi cung ứng công nghiệp quốc phòng thứ nhất là sẽ giúp Việt Nam bớt phụ thuộc vào Nga, sẽ giúp Việt Nam chủ động hơn trong việc thực thi chiến lược hiện đại hóa quân đội, hiện đại hóa Hải quân Việt Nam. Thứ hai, nó cũng giúp cho nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam có thêm nguồn lực.

    Ở đây là nguồn lực không chỉ tới từ nhà nước mà còn là hợp tác công tư trong công nghiệp, mở rộng thị trường cho ngành công nghiệp, bởi vì bất cứ ngành công nghiệp nào cũng cần có thị trường để tồn tại. Chỉ dựa hoàn toàn vào ngân sách nhà nước thì không ổn. Ở đây phải có sự tham gia của tư nhân, một số nhà thầu quốc phòng.

    Ở thời điểm hiện tại thì Việt Nam cũng sẽ không ưu tiên mua sắm theo kiểu chỉ mua vũ khí, mà Việt Nam cũng đòi hỏi ở các đối tác của mình một số điều khoản về chuyển giao công nghệ. Đó là lý do mà gần đây Việt Nam liên tiếp nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với một số nước, nhất là một số nước rất mạnh về công nghiệp quốc phòng như Nhật Bản, Hàn Quốc. Hàn Quốc là nhà xuất khẩu quốc phòng lớn thứ chín thế giới.

    Những đối tác song phương quan trọng như vậy sẽ giúp mở rộng nguồn cung cấp công nghệ và giúp Việt Nam ngày càng giảm phụ thuộc vào Nga, cũng như giảm phụ thuộc vào bất kỳ một quốc gia nào khác. Càng ít phụ thuộc thì càng chủ động trong quá trình hoạch định chính sách, cũng như trong quá trình hiện đại hóa quân đội cũng như Hải quân nói riêng."

    Việt Nam cũng đang chuẩn bị tổ chức Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam lần thứ ba tại Hà Nội vào tháng 12 tới. Sự kiện được tổ chức hai năm một lần này nhằm mục đích quảng bá ngành công nghiệp quốc phòng trong nước, đồng thời là cơ hội để Việt Nam tìm kiếm thêm nhiều nhà cung cấp trang thiết bị quân sự quốc tế. Tại triển lãm đầu tiên vào năm 2024, Việt Nam đã công bố tên lửa chống hạm đầu tiên do trong nước sản xuất mang tên Trường Sơn, cũng do Viettel phát triển.


    Việt Nam cần thoát khỏi danh sách "thiên đường thuế" của EU, Pháp có giúp được không? Sep 07, 2026
    Show notes

    Tháng 02/2026, Liên Hiệp Châu Âu (EU) đưa Việt Nam vào danh sách các khu vực không hợp tác về thuế do “chưa đạt mức xếp hạng tối thiểu là “Tuân thủ phần lớn” (Largely Compliant) theo đánh giá của Diễn đàn Toàn cầu về cơ chế trao đổi thông tin theo yêu cầu”. Đến tháng 08, Việt Nam đã nộp hồ sơ đề nghị đánh giá chuyên sâu, hướng tới nâng hạng tuân thủ, đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các khu vực không hợp tác về thuế của EU (1).

    Được rút hỏi danh sách đen về thuế không chỉ giúp Việt Nam tránh các biện pháp trừng phạt phòng vệ từ các đối tác lớn như Liên Hiệp Châu Âu, mà còn củng cố uy tín quốc gia trong hệ thống tài chính toàn cầu. Đây có thể được coi là mục đích chính trong chuyến thăm công tác tại Pháp của tổng bí thư-chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm từ ngày 09 đến 11/09/2026. Pháp có thể hỗ trợ được Việt Nam như thế nào trong lần đánh giá sắp tới của Liên Hiệp Châu Âu, dự kiến diễn ra tháng 10/2026 ?

    RFI Tiếng Việt phỏng vấn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược Trường Quân sự Pháp, IRSEM.

    RFI : Trong bản cập nhật ngày 17/02/2026, Việt Nam và chín vùng lãnh thổ và quốc gia khác nằm trong danh sách "các khu vực pháp lý thuế không hợp tác" của Liên Hiệp Châu Âu. Đợt đánh giá tiếp theo dự kiến ​​vào tháng 10/2026. Quyết định của Liên Âu gây bất lợi như thế nào cho Việt Nam về hình ảnh và các quyết định đầu tư, đặc biệt trong bối cảnh Mỹ cũng mở ba cuộc điều tra đối với Việt Nam ?

    Benoît de Tréglodé : Điều đầu tiên cần lưu ý là trong thời gian qua đã diễn ra nhiều cuộc tiếp xúc cấp cao giữa tổng thống Pháp và chủ tịch nước kiêm tổng bí thư Việt Nam. Đây là lần thứ ba hai nhà lãnh đạo gặp nhau trong chưa đầy hai năm. Cuộc gặp đầu tiên diễn ra bên lề Hội nghị Thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ tại Villers-Cotterêts năm 2024, tiếp đó là cuộc gặp tại Hà Nội vào tháng 05/2025 và lần này là cuộc gặp thứ ba. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng quan hệ song phương vẫn chưa đạt được tốc độ phát triển như kỳ vọng của cả hai nước.

    Trong bối cảnh đó, có một số vấn đề đáng được xem xét. Chuyến đi lần này mang tính chất chuyến công tác, không phải chuyến thăm cấp Nhà nước, do đó nội dung làm việc sẽ không chỉ giới hạn ở các vấn đề song phương. Dù một số ý kiến cho rằng hợp tác trong lĩnh vực không gian và hàng hải sẽ được thảo luận nhưng tôi cho rằng Việt Nam còn quan tâm đến nhiều mục tiêu quan trọng khác. Đáng chú ý, phái đoàn tháp tùng ông Tô Lâm từ ngày 09 đến 11/09 có quy mô rất lớn, khoảng 180 thành viên.

    Việt Nam hiện có hai mối quan tâm hàng đầu. Thứ nhất là việc bị Liên Hiệp Châu Âu đưa vào “danh sách đen về thuế” đối với các quốc gia không hợp tác từ ngày 17/02/2026. Vấn đề này sẽ được xem xét lại vào tháng 10 tại Bruxelles. Trước đó, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã cử một phái đoàn tới hỗ trợ Việt Nam đáp ứng các tiêu chí về minh bạch và hợp tác thuế quốc tế. Sẽ phải chờ xem tác động của phái đoàn này. Tuy nhiên, Liên Hiệp Châu Âu không nhất thiết phải tuân theo các khuyến nghị của OECD. Trong bối cảnh đó, Paris đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam. Với vị thế là một trong những quốc gia có ảnh hưởng trong Liên Hiệp Châu Âu, Pháp có thể ủng hộ quan điểm của Hà Nội và vận động để Việt Nam được rút khỏi nhóm 10 nước trong danh sách đen về thuế.

    Đọc thêmLiên Hiệp Châu Âu đưa Việt Nam vào “danh sách đen” thuế vì vấn đề minh bạch

    Điểm thứ hai, việc Việt Nam bị đưa vào danh sách đen có thể là một yếu tố làm phức tạp thêm, gây ảnh hưởng đến tiến trình phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ Đầu tư EU-Việt Nam (EVIPA) tại các nước thành viên. Đối với Việt Nam, EVIPA là một ưu tiên chiến lược, thường được Hà Nội nhắc đến, bởi vì hiệp định này nhằm tăng cường bảo đảm pháp lý cho các nhà đầu tư châu Âu, khuyến khích đầu tư vào cơ sở hạ tầng, năng lượng, công nghiệp và công nghệ, phù hợp với những ưu tiên đầy tham vọng mà ông Tô Lâm đang thúc đẩy. Paris cũng chưa phê chuẩn Hiệp định này. Quá trình đã được khởi động và dự kiến sẽ sớm có tiến triển. Việc Pháp sớm phê chuẩn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam.

    Nhìn chung, các ưu tiên của Việt Nam hiện nay tập trung vào hai nội dung chính : Trước hết là các vấn đề tài chính và kinh tế liên quan đến Liên Hiệp Châu Âu ; tiếp đến là các nội dung hợp tác song phương. Những vấn đề gắn với Bruxelles được xem là then chốt để Việt Nam triển khai chương trình phát triển kinh tế đầy tham vọng của ông Tô Lâm.

    RFI : Hà Nội lấy làm tiếc quyết định của Liên Hiệp Châu Âu không phản ánh chính xác những nỗ lực của Việt Nam trong việc tăng cường tính minh bạch của hệ thống thuế. Đồng thời, Việt Nam đã thực hiện nhiều cải cách. Những cải cách đó là gì ? Và liệu chúng có khả năng thuyết phục Bruxelles xem xét lại quyết định trong đợt đánh giá sắp tới không ?

    Benoît de Tréglodé : Tôi không phải là chuyên gia tài chính của OECD hay cơ quan giám sát thuế của Liên Hiệp Châu Âu, nhưng có thể khẳng định rằng việc Bruxelles đưa Việt Nam vào danh sách đen về thuế là một tín hiệu không thuận lợi cho Hà Nội.

    Sau những bất ổn của hệ thống tài chính, từ vụ bê bối Sacombank đầu những năm 2010 đến cuộc khủng hoảng ngân hàng giai đoạn 2011-2012, Việt Nam đã triển khai nhiều chương trình cải cách nhằm nâng cao tính minh bạch và tăng cường mức độ hội nhập của nền kinh tế vào hệ thống quốc tế. Trên thực tế, chính quyền Việt Nam đã thực hiện nhiều cải cách để tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, ngăn các tổ chức tài chính gặp khó khăn làm suy yếu toàn bộ hệ thống, tăng cường kiểm soát nợ xấu, củng cố vai trò của Ngân hàng Nhà nước và chấp nhận rộng rãi hơn các chuẩn mực quốc tế như Basel II (về tiêu chuẩn và quy định ngân hàng).

    Đọc thêmEU-Việt Nam vượt bão thuế quan Mỹ qua Hiệp định Thương mại Tự do EVFTA ?

    Tuy nhiên, theo đánh giá của Liên Hiệp Châu Âu, các cam kết cải cách được đưa ra trong thập niên 2010 vẫn chưa được thực hiện đầy đủ, dẫn đến việc Việt Nam bị đưa trở lại vào diện theo dõi và giám sát về thuế trong lần đánh giá tháng 02/2026.

    Dù vậy, khả năng Việt Nam được rút khỏi danh sách này trong thời gian tới là hoàn toàn có cơ sở. Trong bối cảnh đó, tôi nghĩ Hà Nội đang nỗ lực củng cố và bảo vệ vị thế của mình thông qua việc tăng cường quan hệ với một quốc gia thành viên có tầm ảnh hưởng trong Liên Hiệp Châu Âu.

    RFI : Trong trường hợp Liên Hiệp Châu Âu đánh giá những cải cách này là chưa đủ, như nêu ở trên. Và nếu Việt Nam vẫn nằm trong danh sách đen về thuế, điều này sẽ tác động như thế nào đến đất nước trong những năm tới, khi thực hiện mục tiêu tăng trưởng hàng năm ít nhất là 10% ?

    Benoît de Tréglodé : Không thể nói rằng điều này sẽ ngăn cản đầu tư của châu Âu tại Việt Nam, vì đây chỉ là một trong những yếu tố trong quan hệ song phương. Tuy nhiên, việc Việt Nam xuất hiện trong danh sách đen về thuế, với những biện pháp thuế bất lợi, sẽ tác động đến sức hấp dẫn của Việt Nam trong mắt các chính phủ và doanh nghiệp châu Âu.

    Tác động của việc này thể hiện trên nhiều phương diện. Trước hết, các giao dịch tài chính giữa Việt Nam và châu Âu có thể trở nên phức tạp, tốn thời gian hơn do phải trải qua các quy trình kiểm tra, thẩm định nghiêm ngặt hơn. Trong trường hợp phát sinh nghi ngờ, các cơ quan và tổ chức liên quan sẽ phải tiến hành xác minh kỹ hơn về nguồn gốc dòng tiền, hồ sơ thuế… Các thủ tục này sẽ làm gia tăng chi phí cho các doanh nghiệp. Và đây không phải là điều tích cực cho lắm.

    Tác động thứ ba, tôi cho là cũng rất quan trọng, liên quan đến hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đây là điều thực sự không cần thiết trong bối cảnh Việt Nam đang theo đuổi chương trình cải cách kinh tế và hiện đại hóa đầy tham vọng dưới sự lãnh đạo của tổng bí thư, chủ tịch nước Tô Lâm. Chẳng hạn, một ngân hàng Pháp cần tài trợ cho doanh nghiệp Việt Nam. Họ không từ chối nhưng bộ phận quản trị rủi ro hoặc tuân thủ có thể yêu cầu áp dụng mức lãi suất cao hơn để bù đắp cho các chi phí và rủi ro phát sinh do Việt Nam nằm trong danh sách không hợp tác về thuế.

    Rủi ro là có nhưng không có nghĩa là sẽ bế tắc. Đối với phái đoàn Việt Nam, đây vẫn là một quan ngại lớn. Và để tăng cường quan hệ đối tác kinh tế với Liên Hiệp Châu Âu, Việt Nam cần phải thoát khỏi danh sách đen này.

    RFI : Như ông đề cập ở trên, Pháp là một thành viên chủ chốt, có ảnh hưởng trong Liên Hiệp Châu Âu. Liệu Việt Nam có thể trông cậy vào sự ủng hộ của Pháp trong đợt đánh giá sắp tới của Liên Âu ?

    Benoît de Tréglodé : Pháp đã thể hiện rất rõ vai trò là một đối tác tin cậy và đồng hành với Việt Nam. Hiệp định EVIPA sẽ sớm được phê chuẩn. Dĩ nhiên tôi không nắm được suy nghĩ của tổng thống Pháp nhưng nhiều khả năng các cuộc gặp từ ngày 09 đến 11/09 sẽ là dịp để Việt Nam đưa ra những trao đổi, hứa hẹn, đổi lại lời hứa của Pháp hỗ trợ Việt Nam vượt qua giai đoạn khó khăn này. Theo tôi, đây là động lực chính của Việt Nam trong chuyến công tác này và đề nghị Pháp giúp đỡ đưa Việt Nam ra khỏi danh sách đen về thuế của Liên Hiệp Châu Âu vào tháng 10 tới.

    Đọc thêmHiệp định Đầu tư Trung–Âu bế tắc: Việt Nam có lợi nếu Liên Âu sớm phê chuẩn EVIPA

    Vấn đề này cũng cần được đặt trong bối cảnh rộng hơn của chiến lược phát triển kinh tế mà ông Tô Lâm đề ra đến năm 2030. Với các mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng, bất kỳ rào cản nào làm suy giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư hoặc cản trở cho tăng trưởng của Việt Nam, đều là điều không tốt. Bên cạnh đó, một định hướng quan trọng của Việt Nam là đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm giảm phụ thuộc vào các đối tác lớn như Trung Quốc và Hoa Kỳ. Trong chiến lược này, việc củng cố và mở rộng hợp tác với Liên Hiệp Châu Âu giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

    Vì vậy, Việt Nam hiện đang đứng trước hai thách thức lớn. Thứ nhất, bảo đảm rằng Hiệp định EVIPA được các nước thành viên Liên Âu phê chuẩn càng sớm càng tốt, trong đó Pháp có thể đóng vai trò hỗ trợ đáng kể. Thứ hai, Pháp có thể giúp Việt Nam tăng cường minh bạch trong lĩnh vực tài chính và thuế để sớm được đưa ra khỏi danh sách đen của Liên Hiệp Châu Âu.

    RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân sự Pháp (IRSEM).

    (1) Việt Nam hoàn thiện khuôn khổ trao đổi thông tin vì mục đích thuế.


    Đối tác châu Á giúp Việt Nam tạo thế cân bằng với nhà đầu tư phương Tây Aug 31, 2026
    Show notes

    Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 38 tỷ đô la, tăng 58% so với cùng kỳ năm 2025. Năm nhà đầu tư lớn nhất đều đến từ châu Á : Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông, Trung Quốc, Nhật Bản ; riêng Singapore chiếm 35,6% tổng vốn đăng ký cấp mới (7,5 tỷ đô la).

    Các nhà đầu tư châu Á coi sự ổn định chính trị của Việt Nam là lợi thế, dù nước này có “những hạn chế về nhân quyền” và “chế độ chính trị mang tính chuyên chế”.

    Đó là nhận định của giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân sự Pháp (IRSEM), trong phần trả lời cho câu hỏi “Phải chăng Việt Nam lại đang hướng sang châu Á?” trong cuốn sách Le Việt Nam. Au carrefour d'une nouvelle Asie. En 100 questions (Việt Nam : Giữa ngã ba của một châu Á mới).

    Vẫn theo chuyên gia Pháp, “các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng đánh giá cao việc các đối tác không đặt ra những điều kiện này và cảm thấy thoải mái hơn khi hợp tác với những quốc gia có nền văn hóa chính trị tương đồng” (2) trái với các đối tác phương Tây, vẫn thường đặt điều kiện đầu tư với hàng loạt ràng buộc về các quyền và nghĩa vụ. Trong những năm gần đây, “cho dù các nước phương Tây đã tiết chế những phát biểu về nhân quyền nhưng ảnh hưởng của họ vẫn bị suy giảm trước sức mạnh của các nền kinh tế châu Á”.

    Việt Nam đang chuyển hướng sang châu Á?RFI Tiếng Việt phỏng vấn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé.

    RFI : Trong tựa đề cuốn sách, ông nhắc đến “một châu Á mới”. Chính xác thì chúng ta nên hiểu “châu Á mới” này như thế nào trong bối cảnh hiện tại, và Việt Nam đang đứng ở vị trí nào tại ngã ba đường của “châu Á mới” này ?

    Benoît de Tréglodé : Vì sao lại là "Ngã ba đường của một châu Á mới" ? Khi đặt tên cho một cuốn sách, tiêu đề luôn cần có sức tạo ấn tượng mạnh mẽ. Chính vì vậy, nhà xuất bản Tallandier đã lựa chọn tiểu tựa đề "Ở ngã ba của một châu Á mới". Châu Á đang chuyển mình mạnh mẽ từng ngày, và hình ảnh "ngã ba đường" phản ánh cách nhìn về vị thế của Việt Nam trong bối cảnh đó.

    Thoạt nghe, đây có thể là một cách diễn đạt khá khái quát, nhưng lại hàm chứa nhiều ý nghĩa. Trong một thời gian dài, các đối tác chủ yếu của Việt Nam là những cường quốc phương Tây ở xa : trước hết là Pháp trong thời kỳ thuộc địa, rồi đến Liên Xô và Hoa Kỳ trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam… Chỉ đến khi gia nhập Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Việt Nam mới thực sự tái khám phá bản sắc và không gian châu Á của mình. Từ đó, Hà Nội dần nhận ra rằng việc thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài và mở rộng hợp tác kinh tế với các nền kinh tế năng động, đang lên của Đông Á là chìa khóa để đa dạng hóa các mối quan hệ đối ngoại và tạo thế cân bằng về địa-chính trị.

    Các nhà lãnh đạo Việt Nam nhanh chóng hiểu rằng cách tiếp cận dựa trên địa-kinh tế này có thể giúp đất nước tránh bị cuốn vào thế đối đầu giữa hai cường quốc : một bên là Trung Quốc - đối tác chính trị, kinh tế và chiến lược có ảnh hưởng sâu rộng và bên kia là Hoa Kỳ - quốc gia mà Việt Nam cũng phụ thuộc rất lớn về kinh tế.

    Vì vậy, đây cũng là cách để cân bằng tất cả các mối quan hệ với thế giới bằng cách mở cửa nền kinh tế cho các quốc gia và nền kinh tế khác. Điều này cho thấy Việt Nam không phụ thuộc vào một quốc gia duy nhất. Việt Nam có khả năng cân bằng lại các mối quan hệ kinh tế và do đó có thể ứng phó với những sức ép hoặc đòi hỏi quá mức từ các đối tác lớn.

    RFI : Ông vừa đề cập là Việt Nam hướng trở lại châu Á. Vậy sự tập trung trở lại vào châu Á này sẽ có ý nghĩa gì đối với Việt Nam ?

    Benoît de Tréglodé : Bởi vì, như tôi vừa đề cập, Việt Nam đang theo đuổi một chiến lược cân bằng rất rõ ràng. Điều đó được thể hiện qua hình ảnh một thủ tướng được cộng đồng doanh nghiệp quốc tế đánh giá cao như ông Lê Minh Hưng, người luôn chủ động chào đón và khuyến khích các nhà đầu tư từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore cũng như Hoa Kỳ.

    Hoa Kỳ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 25% tổng kim ngạch xuất khẩu, và là một đối tác có ý nghĩa đặc biệt đối với nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, giữa hai nước vẫn tồn tại một số bất đồng khiến Hà Nội chưa thể coi quan hệ kinh tế với Washington là hoàn toàn không có rủi ro.

    Chẳng hạn, Hoa Kỳ gần đây đã đưa ra mức cảnh báo cao đối với Việt Nam trong báo cáo thường niên về bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Điều này có thể dẫn đến các cuộc điều tra sâu hơn và kéo theo nguy cơ Washington áp dụng các biện pháp trừng phạt thương mại. Bên cạnh đó, phía Hoa Kỳ cũng nhiều lần bày tỏ quan ngại về tình trạng lao động cưỡng bức tại Việt Nam, trong khi bộ Ngoại Giao Việt Nam bác bỏ các cáo buộc này. Có thể thấy, quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Hoa Kỳ vẫn phát triển mạnh mẽ nhưng đồng thời cũng chịu tác động bởi những bất đồng nhỏ phản ánh tính chất đặc biệt của một quan hệ song phương được định hình bởi lịch sử và vì thế vẫn luôn chứa đựng những yếu tố nhạy cảm.

    Trong khi đó, các đối tác ở ASEAN và Đông Á lại mở ra cho Việt Nam những cơ hội rất lớn. Các doanh nghiệp trong khu vực hiện sở hữu năng lực cạnh tranh công nghệ ngày càng cao, cung cấp nhiều sản phẩm có thể cạnh tranh trực tiếp với các tập đoàn phương Tây, không chỉ về chất lượng mà còn về giá cả. Quan trọng hơn, cách thức hợp tác và văn hóa kinh doanh của các đối tác châu Á thường gần gũi với môi trường kinh doanh của Việt Nam hơn, giúp quá trình hợp tác diễn ra thuận lợi và thực dụng hơn.

    Thực tế, trong những năm gần đây, có thể thấy làn sóng đầu tư mạnh mẽ từ các nền kinh tế châu Á vào Việt Nam. Các nhà đầu tư này chủ yếu tập trung vào hoạt động kinh doanh, không chỉ trích bất cứ điều gì, ít gắn các quyết định đầu tư với những điều kiện hay yêu cầu mang tính chính trị.

    Đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam, sự đa dạng hóa các đối tác kinh tế còn mang một ý nghĩa chiến lược sâu sắc. Nó cho phép Việt Nam gửi đi một thông điệp rõ ràng tới các đối tác truyền thống : "Hãy nhìn xem, chúng tôi không phụ thuộc vào bất kỳ ai. Chúng tôi có thể có thể vận hành cỗ máy mà không nhất thiết cần các vị. Chúng tôi phát triển cùng nhiều đối tác khác, từ nhiều thị trường và nhiều nhà đầu tư khác nhau".

    Nói cách khác, tự chủ kinh tế không chỉ là một mục tiêu phát triển, mà còn là nền tảng để xây dựng tự chủ chiến lược. Đó là giấc mơ trường tồn của giới cầm quyền Việt Nam.

    RFI : Năm câu hỏi cuối cùng liên quan đến Việt Nam và Pháp : Liệu hai đất nước có “một tương lai chung” không ?

    Benoît de Tréglodé : Đó là một câu hỏi không dễ trả lời. Đúng là phần cuối cuốn sách do Nhà xuất bản Tallandier phát hành được dành để phân tích quan hệ giữa Pháp và Việt Nam. Đây cũng là một khuôn khổ chung mà các tác giả trong bộ sách đều phải tuân thủ.

    Nhưng nếu nhìn vào thực tế, quan hệ giữa hai nước ngày nay đã thay đổi rất nhiều so với ba thập niên trước. Sẽ không khách quan nếu không thừa nhận điều đó. Tại Pháp, cả giới chính trị lẫn dư luận vẫn chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của ý niệm về "một thế kỷ lịch sử chung" giữa hai nước. Tuy nhiên, từ góc nhìn của Việt Nam, giai đoạn ấy trước hết là thời kỳ thực dân Pháp cai trị. Việt Nam không đánh giá cao "Phần lịch sử chung" này.

    Pháp đã chuyển từ quan niệm lịch sử đó sang hướng thực dụng hơn. Pháp cũng đang thấy ảnh hưởng suy yếu dần tại Việt Nam. Điều này thể hiện rất rõ trên phương diện kinh tế. Vào đầu và giữa những năm 1990, các công ty Pháp từng nắm giữ gần 6% thị phần; ngày nay, con số này chỉ còn khoảng 0,4% đến 0,5% thị phần trong nước do sự bùng nổ của cạnh tranh quốc tế và sự năng động cực độ của các doanh nghiệp châu Á. Song song đó, cộng đồng Pháp ngữ cũng đã suy yếu đáng kể ở Việt Nam nói riêng và trên toàn thế giới nói chung.

    Nhìn tổng thể, dù xét trên phương diện kinh tế, văn hóa hay chính trị, ảnh hưởng của Pháp tại Việt Nam đều đã suy giảm đáng kể. Đây là thực tế cần được nhìn nhận, đồng thời cũng là yếu tố đầu tiên giúp lý giải sự thay đổi trong quan hệ giữa hai nước.

    Về phía Việt Nam, cách tiếp cận cũng mang tính thực dụng không kém. Hà Nội ưu tiên hợp tác với những đối tác đáp ứng tốt nhất các mục tiêu phát triển của mình. Trong bối cảnh hiện nay, nhiều nền kinh tế châu Á có khả năng đáp ứng hiệu quả hơn nhu cầu của Việt Nam về đầu tư, công nghệ, công nghiệp và tiêu dùng của tầng lớp trung lưu đang gia tăng. Đồng thời, họ cũng phù hợp hơn với những tính toán về địa kinh tế và chuỗi cung ứng trong khu vực.

    Chính sự thay đổi trong các ưu tiên phát triển của Việt Nam, cùng với sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt từ các đối tác châu Á, đã góp phần làm giảm vai trò và ảnh hưởng của Pháp tại Việt Nam trong những năm gần đây.

    RFI Tiếng Việt chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân sự Pháp (IRSEM).


    Trung tâm CIRAD của Pháp hỗ trợ chuyển đổi nông nghiệp sinh thái ở miền bắc Việt Nam Aug 24, 2026
    Show notes

    Hội nghị lần thứ 17 của Liên Hiệp Quốc (COP17) về Chống Sa mạc hóa đang diễn ra từ ngày 17 đến 28/08/2026 tại Ulan Bator, thủ đô của Mông Cổ. Hội nghị quy tụ 197 quốc gia và tổ chức khu vực nhằm giải quyết vấn đề phục hồi đất đai và chống hạn hán. COP17 về Chống sa mạc hóa diễn ra trong khuôn khổ Năm Quốc tế về Đồng cỏ và Chăn nuôi Du mục.

    Đồng cỏ là những vùng đất tự nhiên rộng lớn, không canh tác, chủ yếu được sử dụng để chăn thả gia súc, bao phủ hơn một nửa diện tích đất liền của Trái Đất và trực tiếp hỗ trợ sinh kế cho khoảng 500 triệu người. Chăn nuôi du mục hay chăn thả tự do cũng là một vấn đề trọng tâm tại hội nghị COP lần này. Đây là phương thức chăn nuôi quảng canh, dựa vào việc gia súc ăn cỏ tự nhiên trên đồng cỏ và thường có đặc điểm là tính di động của người chăn nuôi và đàn gia súc.

    Do 2026 là Năm Quốc tế Du mục, cho nên tại Triển lãm Nông nghiệp Quốc tế Paris ( 27/02 - 07/03/2026 ), Trung tâm Hợp tác Quốc tế về Nghiên cứu Nông nghiệp vì Sự Phát triển ( CIRAD ) của Pháp cùng với Cơ quan Phát triển Pháp ( AFD ) đã chọn chăn nuôi du mục là chủ đề chính, nhằm quảng bá rộng rãi hơn một hình thức chăn nuôi còn rất phổ biến ở nhiều nước, trong đó có cả Việt Nam, nhưng cho tới nay ít được giới nghiên cứu và các chính quyền để ý đến.

    Trả lời RFI Việt ngữ tại Triển lãm Nông nghiệp, kỹ sư nông học Guillaume Duteurtre, nhà nghiên cứu tại trung tâm CIRAD, cho biết :

    “Năm quốc tế này là cơ hội để giới thiệu những gì chúng tôi đang làm trong lĩnh vực này cho CIRAD và AFD, và đặc biệt là tham gia vào các hoạt động vận động, chiến dịch nâng cao nhận thức và các sự kiện giúp thúc đẩy phát triển chăn nuôi du mục ở các quốc gia mà chúng tôi hoạt động.

    Trên hành tinh của chúng ta, chăn thả du mục hiện diện ở mọi vĩ độ. Từ các vĩ độ phía bắc với việc chăn nuôi tuần lộc, đến các vĩ độ nhiệt đới và thậm chí cả xích đạo với chăn nuôi gia súc, tức là ở vùng thảo nguyên. Đó là một hệ thống chăn nuôi gia súc và một lối sống của khoảng 500 triệu người trên toàn thế giới, dựa trên việc sử dụng thảm thực vật tự nhiên.

    Chủ yếu đó là chăn nuôi gia súc, động vật nhai lại, nhưng cũng bao gồm cả chăn nuôi lạc đà, và đôi khi cả ngựa nữa, như ở Mông Cổ, nơi mà ngựa có vai trò rất quan trọng. Đó là một hệ thống giúp cho nhiều cộng đồng kiếm sống từ hoạt động thường được liên kết với nông nghiệp. Chăn thả kết hợp với nông nghiệp cũng là một hệ thống cho phép sử dụng bền vững các khu vực rừng nơi động vật được chăn thả. Trong ngành chăn thả kết hợp lâm nghiệp ( sylviopastoralisme ), chúng ta cũng có thể sử dụng các sản phẩm từ rừng.

    Ở châu Âu, rõ ràng đây là một hệ thống quan trọng, đặc biệt là ở các vùng núi. Nhưng ở các quốc gia nhiệt đới mà CIRAD hoạt động, đây là một hệ thống có tính cấu trúc đặc biệt đối với các vùng lãnh thổ. Người ta ước tính rằng, trên toàn thế giới, đồng cỏ – những vùng đất rộng lớn với thảm thực vật tự nhiên – chiếm khoảng 45% diện tích đất liền của Trái đất. Đây là những vùng lãnh thổ khổng lồ.”

    Ngành chăn nuôi du mục hiện đang phải đối mặt với những thách thức nào do tác động của biến đổi khí hậu, vốn đang ngày càng làm giảm diện tích đất có thảm thực vật? Kỹ sư Guillaume Duteurtre giải thích :

    “Tác động của biến đổi khí hậu khác nhau tùy thuộc vào từng khu vực. Những gì đang xảy ra ở Siberia không giống với những gì đang xảy ra ngay giữa vùng Sahel ( Châu Phi ). Vì vậy, phải tính đến bối cảnh địa phương. Ví dụ chúng tôi đã thực hiện rất nhiều nghiên cứu ở Tây Phi và vùng Sahel. Chúng tôi nhận thấy lượng mưa đang tăng lên do biến đổi khí hậu, nhưng được phân bổ không đồng nhất giữa các mùa và trong suốt các năm. Do đó, các hệ thống này đang chịu áp lực do sự bất thường này.

    Chúng tôi cũng nhận thấy nhiệt độ đang tăng lên ở khu vực Sahel. Điều này gây thêm áp lực lên vật nuôi. Do lượng mưa đang tăng lên và được phân bổ không đều, cho nên đã xảy ra một số trận lũ lụt và các hiện tượng thời tiết cực đoan, dẫn đến cái chết của động vật. Ví dụ, trong mùa mưa vừa qua ở Sahel, đã có nhiều động vật bị chết đuối.

    Đó là bối cảnh khí hậu chung. Vì vậy, khó khăn nằm ở việc thích ứng với những thay đổi này, đồng thời cũng thích ứng với những thay đổi khác. Thay đổi lớn đầu tiên tất nhiên là sự gia tăng diện tích đất canh tác và sự gia tăng số lượng động vật. Với sự gia tăng dân số, áp lực từ thị trường thịt và sữa, thế giới ngày càng có nhiều động vật hơn, trong khi không gian sống ngày càng ít hơn. Vì vậy, đó là hạn chế đầu tiên: có sự căng thẳng cả về đồng cỏ chăn thả và đường đi của động vật, hành lang tiếp cận sông ngòi, nguồn nước uống, hành lang tiếp cận khu vực trú ẩn, v.v. Và hiện nay còn có một sự thay đổi lớn khác đang diễn ra: Trong khuôn khổ Công ước Liên Hiệp Quốc về Đa dạng sinh học, các quốc gia cam kết sẽ tăng diện tích các khu bảo tồn, các khu vực bảo vệ thiên nhiên.”

    Riêng ở Việt Nam hiện nay, chăn thả tự do vẫn là một trong 3 phương thức chăn nuôi phổ biến cùng với chăn nuôi bán công nghiệp và chăn nuôi theo kiểu công nghiệp. Phương thức chăn thả tự do có những lợi thế, như tận dụng được nguồn thức ăn tự nhiên, phụ phẩm nông nghiệp, vật nuôi cho chất lượng thịt săn chắc, thơm ngon, nhưng phương thức này lại có nhược điểm là phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, quy mô nuôi đàn chỉ ở mức vừa phải, và nhất là khó kiểm soát dịch bệnh.

    Vấn đề đang được đặt ra đối với những vùng vẫn còn tồn tại phương thức chăn thả như ở tỉnh Điện Biên ở miền bắc Việt Nam, đó là phải làm sao giảm thiểu xung đột giữa phương thức chăn nuôi này với việc bảo tồn đa dạng sinh học. Trung tâm CIRAD đã có những hoạt động để hỗ trợ nông dân vùng núi miền bắc Việt Nam chuyển từ chăn thả tự nhiên sang canh tác sinh thái và chăn nuôi, theo lời kỹ sư Guillaume Duteurtre :

    “Trung tâm CIRAD đã làm việc từ nhiều năm qua ở Việt Nam, đặc biệt là các vùng núi phía Bắc, về hệ thống canh tác sinh thái và chăn nuôi, mà theo truyền thống thường được tích hợp cao, với một ít ruộng lúa, một vài cây ăn quả, một số ao hồ và một đàn gia súc nhỏ như dê hoặc bò. Trong lĩnh vực này, chúng tôi đang hợp tác với các tổ chức nghiên cứu của Việt Nam và bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn để khuyến khích các hệ thống nông nghiệp sinh thái và thúc đẩy các phương pháp quản lý môi trường để sản xuất nhưng vẫn tôn trọng môi trường.

    Có những thách thức đáng kể liên quan đến tình trạng xói mòn sườn dốc ở khu vực phía Bắc Việt Nam này, do việc chuyên canh cây trồng, đặc biệt là ngô và sắn. Do đó, chúng tôi đang làm việc với tất cả các đối tác về các hệ thống canh tác và chăn nuôi tích hợp để sản xuất ngô và sắn đồng thời bao gồm cả chăn nuôi. Vì vậy, lợi thế của việc chăn nuôi gia súc ở khu vực này là có thể tận dụng được diện tích rừng, rất rộng lớn do các quy định rất nghiêm ngặt về bảo tồn rừng cộng đồng và rừng sản xuất. Gia súc có thể giúp nâng cao giá trị của các khu vực rừng này khi được chăn thả, bởi vì chúng không chỉ ăn cỏ mà còn ăn rất nhiều lá cây. Và trên hết, chúng tôi sẽ cố gắng thúc đẩy việc sử dụng phân chuồng để duy trì độ phì nhiêu của đất tại các vườn cây ăn quả và các khu rừng trồng để bán.

    Đó là một quan hệ đối tác rất tốt và chúng tôi đang cố gắng đo lường lợi ích môi trường của các hệ thống nông nghiệp và chăn nuôi tích hợp này, vốn đã rất quen thuộc với thế hệ những người lớn tuổi trong cộng đồng, ít nhất là những người lớn tuổi trong khu vực đó. Chúng tôi đang so sánh những lợi ích môi trường này với lợi ích kinh tế để giúp ra quyết định về các chính sách phát triển.”

    Trong khuôn khổ các hoạt động ở Việt Nam, trung tâm CIRAD đã tham gia vào Dự án Chuyển đổi hệ thống Nông nghiệp sinh thái và Thực phẩm an toàn (ASSET), tại 2 tỉnh Sơn La và Điện Biên, từ năm 2021. Với tài trợ của Cơ quan Phát triển Pháp (AFD), Liên Hiệp Châu Âu (EU) và Quỹ Môi trường toàn cầu của Pháp (FFEM), dự án ASSET hướng tới mục tiêu thúc đẩy hệ thống nông nghiệp sinh thái, nâng cao an toàn thực phẩm và phát triển sinh kế bền vững. Kỹ sư Guillaume Duteurtre cho biết :

    “Chúng tôi làm việc trước hết với chính quyền địa phương, những người đảm trách việc hỗ trợ sự phát triển này và rất nhiệt tình tham gia vào các cơ chế tham gia, trong đó chúng tôi thảo luận với đại diện của nông dân để xác định phương pháp tiếp cận tốt nhất cho từng khu vực. Chúng tôi cũng hợp tác với lãnh đạo các tổ chức quần chúng, vốn được tổ chức rất chặt chẽ ở Việt Nam, đại diện cho nông dân, gia đình họ và các hội phụ nữ, để cố gắng nâng cao nhận thức trong cộng đồng về các hệ thống này, đôi khi phức tạp hơn hệ thống chuyên canh, độc canh, nhưng về lâu dài lại bền vững và có khả năng chống chịu tốt hơn nhiều.

    Chúng tôi có một số kinh nghiệm rất tốt về dự báo, tức là các kịch bản tương lai mà chúng tôi cố gắng phát triển tại địa phương ở cấp xã với các cộng đồng cư dân này để dự trù trong những năm nào chúng ta sẽ chuyên canh cây mắc ca, liệu chúng ta có thúc đẩy chăn thả gia súc trong vườn mắc ca hay không, liệu chúng ta có khuyến khích sản xuất thịt khô để thúc đẩy ngành chăn nuôi bò zebu hoặc lợn hay không, v.v. Đây là những kinh nghiệm về đổi mới thông qua hợp tác, một cách thức nghiên cứu mới đối với chúng tôi cùng với các đồng nghiệp nghiên cứu của Việt Nam.

    Chúng tôi vừa mới hoàn thành một dự án rất lớn, kéo dài 5 năm do Liên Hiệp Châu Âu tài trợ, tại khu vực Điện Biên, nơi chúng tôi đã hợp tác rộng rãi với nhiều sắc tộc thiểu số trong khu vực. Hiện tại chúng tôi đang xem xét các dự án nhằm thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn, tức là tái chế sinh khối thông qua các hệ thống canh tác hỗn hợp. Vì vậy, hiện tại chúng tôi đang xây dựng một dự án lớn với nhiều đối tác về kinh tế tuần hoàn, đây là một cách tiếp cận khác biệt hơn đối với phát triển nông nghiệp hiện nay, đặc biệt là ở những vùng lãnh thổ dễ bị tổn thương này.”

    Vào tháng 10 năm ngoái, trung tâm CIRAD cùng với Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam và Tổ chức GRET Viện đã tổ chức hội thảo để tổng kết việc thực hiện dự án ASSET tại Điện Biên. Các bên đánh giá dự án này đã đạt những kết quả tích cực đó là làm thay đổi phương thức sản xuất từ chăn thả, bán chăn thả sang chăn nuôi có quản lý, kiểm soát.


    Biên phòng, cảnh sát biển Việt Nam: Hai lực lượng đi đầu trong mở rộng ngoại giao quốc phòng với Úc Aug 17, 2026
    Show notes

    Việt Nam và Úc công bố ba tuyên bố chung khi kết thúc chuyến thăm cấp Nhà nước tới Úc của chủ tịch nước Tô Lâm từ ngày 09 đến 12/08/2026. Hai nhà lãnh đạo coi đây là minh chứng cho “sự tương đồng ngày càng lớn về lợi ích chiến lược”. Còn giới quan sát đánh giá sự kiện này là “chưa từng có tiền lệ”. Về hợp tác quốc phòng, hai nước đã trao đổi ba văn kiện hợp tác về tìm kiếm cứu nạn, biên phòng và cảnh sát biển. Trong một bài viết trên trang The Diplomat, tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải nhận thấy "điểm đáng chú ý, các tuyên bố chung cho thấy Việt Nam đang thể hiện tự tin hơn khi đề cập đến "Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương" như một cấu trúc khu vực", thay vì "thận trọng" như trước đây. Điều này cho thấy "Việt Nam đang khẳng định vị thế vững chắc hơn trong cấu trúc khu vực rộng lớn này, thay vì coi đây là khái niệm chủ yếu thuộc về các bên khác". Để hiểu hơn về quá trình hợp tác an ninh và quốc phòng giữa Việt Nam và Úc, RFI Tiếng Việt phỏng vấn tiến sĩ Nguyễn Thế Phương, chuyên ngành an ninh hàng hải và các vấn đề hải quân, Đại học New South Wales, Úc. RFI : Úc và Việt Nam có mối quan hệ hợp tác quốc phòng từ khá lâu, hai nước hợp tác trong những lĩnh vực nào ? Nguyễn Thế Phương : Nhìn lại lịch sử hợp tác, quan hệ hợp tác quốc phòng Việt được đặt móng từ Bản ghi nhớ Hợp tác Quốc phòng năm 2010, cũng là 16 năm rồi. Và 8 năm sau đó, năm 2018 là Tuyên bố Tầm nhìn chung. Từ đó tới nay, quan hệ quốc phòng Việt-Úc tập trung vào một số mảng sau đây. Thứ nhất là đào tạo và huấn luyện. Đây là một trụ cột nền tảng. Rất nhiều học viên, sĩ quan Việt Nam đang học ở Học Viện Quốc Phòng Úc, không chỉ ở thủ đô Canberra, mà còn ở những cơ sở huấn luyện quốc phòng khác, nhưng tập trung chủ yếu ở Học Viện Quốc Phòng Úc. Úc là một trong những quốc gia cung cấp rất nhiều học bổng đào tạo ngoại ngữ, cụ thể là tiếng Anh chuyên ngành quân sự và quản lý quân sự chuyên sâu cho các cán bộ sĩ quan quân đội Việt Nam. Ở chiều ngược lại, Úc họ cũng cử quân nhân sang Việt Nam học tiếng Việt và tham gia một số các khóa đào tạo về quốc phòng tại Học Viện Quốc Phòng ở Việt Nam. Trong quá trình hội nhập quốc tế, nếu so sánh các đối tác quốc phòng, ngoài Mỹ, cứ cho rằng Úc thuộc phương Tây, thì Úc hỗ trợ Việt Nam gần như là nhiều nhất, nhiều khi hơn cả Pháp. Đây là điểm trụ cột nền tảng trong quan hệ quốc phòng Việt-Úc trong khoảng 10 năm qua. Đọc thêmViệt Nam - Úc : Mối quan hệ “thực chất” dựa trên “niềm tin chính trị” Điểm thứ hai, một trong những điểm rất nổi bật, là hợp tác trong mảng gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc. Úc hỗ trợ toàn diện cho Việt Nam từ vấn đề kỹ thuật, huấn luyện lực lượng cho đến logistic. Hầu như tất cả các lực lượng Việt Nam qua châu Phi để tiến hành các hoạt động gìn giữ hòa bình đều được vận chuyển bằng máy bay vận tải hàng nặng C17 Globemaster của Úc. Từ con người, trang thiết bị cho tới những vấn đề hầu cần từ châu Á tới châu Phi là Úc hỗ trợ Việt Nam cái mảng này, hầu như là duy nhất luôn. Mảng thứ ba cũng cần được nhắc tới là khắc phục hậu quả chiến tranh. Úc hỗ trợ chia sẻ dữ liệu, kỷ vật chiến tranh, công tác bản đồ để phục vụ cho quá trình rà phá bom mìn và tìm kiếm liệt sĩ Việt Nam mất tích trong chiến tranh. Và vấn đề được làm một cách thường xuyên, liên tục năm này qua năm khác, chính là tham vấn chính trị quốc phòng cả song phương lẫn đa phương, ví dụ đối thoại chính sách quốc phòng song phương Việt Nam và Úc trước đây thường là cấp thứ trưởng và phối hợp trên các diễn đàn khu vực, ví dụ Diễn đàn bộ trưởng Quốc Phòng ASEAN mở rộng ADMM+. Đó là bốn lĩnh vực hợp tác quốc phòng Việt-Úc đã tiến hành trong vòng 10 năm qua. RFI :Kế từ khi hai nước nâng cấp quan hệ lên mức cao nhất - Đối tác Chiến lược toàn diện - mối quan hệ này được phát triển như thế nào và mở rộng ra những lĩnh vực nào ? Nguyễn Thế Phương : Khi Việt Nam và Úc nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện từ tháng 03/2024, điểm được mở rộng hợp tác là thỏa thuận gìn giữ hòa bình, trong giai đoạn hợp tác mới thì sẽ không đơn lẻ mà sẽ mở rộng ra rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Trước đây lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam tham gia vào hai mảng : quân y và công binh. Đây vốn là hai mảng phi tác chiến và Việt Nam, từ hồi chiến tranh tới giờ, có rất nhiều kinh nghiệm và khả năng thực hiện một cách tốt nhất. Từ 2024 tới nay, Việt Nam và Úc sẽ mở rộng lĩnh vực đó, không chỉ công binh, y tế mà còn cả cảnh sát. Tức là công an Việt Nam tham gia vào gìn giữ hòa bình. Úc cũng sẽ tham gia vào quá trình huấn luyện lực lượng đó. Hợp tác quân chủng giữa hai bên cũng được mở rộng, gia tăng hoạt động giao lưu trao đổi kinh nghiệm cụ thể, phòng không, không quân, đặc biệt là biên phòng và cảnh sát biển. Bởi vì Việt Nam ưu tiên sử dụng những lực lượng phi tác chiến trong bối cảnh mở rộng ngoại giao quốc phòng, trong đó biên phòng và cảnh sát biển là hai lực lượng có thể đi đầu trong mảng này. Ngoài ra, Việt Nam còn mở rộng tham gia vào một số cuộc tập trận đa phương mà Úc tham gia. Đọc thêmNhững kỳ vọng về quan hệ "Đối tác chiến lược toàn diện" giữa Việt Nam và Úc Và cuối cùng là mở rộng sang lĩnh vực an ninh phi truyền thống, ví dụ an ninh hàng hải và thúc đẩy luật pháp quốc tế, tôn trọng UNCLOS 1982, tăng cường nhận thức hàng hải ở Biển Đông, tăng cường hợp tác trong việc thực thi pháp luật trên biển giữa cảnh sát Việt Nam và Úc, có thể cải thiện an ninh mạng và công nghiệp quốc phòng. Đây là một mảng mới tại vì thật ra công nghiệp quốc phòng Úc, tính đến thời điểm hiện tại cũng không nổi bật lắm so với một số nước phát triển khác như Ấn Độ, nhưng vẫn có những điểm mà hai bên có thể hợp tác được. Tiếp theo là phòng chống tội phạm xuyên quốc gia và an ninh biên giới cũng được hai bên đẩy mạnh. Và cuối cùng là cứu hộ cứu nạn vì biến đổi khí hậu. Trong khoảng thời gian gần đây, hai bên tăng cường hợp tác mảng này, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, cải thiện năng lực cứu hộ cứu nạn cho cả hai nước. RFI : Nhân chuyến công du nước Úc của ông Tô Lâm, hai nước cũng đã ký biên bản ghi nhớ về hợp tác thực thi pháp luật hàng hải, tăng cường hợp tác quân sự. Vậy trong thời gian tới, sự hợp tác này sẽ được phát triển theo những hướng nào ? Nguyễn Thế Phương : Hai nước đã trao đổi các văn kiện hợp tác quan trọng, nhất là một biên bản ghi nhớ - MOU về hợp tác thực thi pháp luật trên biển giữa cảnh sát biển và biên phòng Việt Nam với lại lực lượng quản lý biên giới Úc. Thứ hai là tuyên bố tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng cập nhật, xác lập một bước phát triển nguyên tính bản lề về định hướng quốc phòng giữa Việt Nam và Úc trong thời gian tới. Ở đây sẽ có một số điểm như sau. Thứ nhất là nâng cấp năng lực và thực thi pháp luật hàng hải. Trọng tâm sẽ là tăng cường những hoạt động giao lưu giữa hai bên, và đặc biệt là chia sẻ về khả năng hợp tác tác chiến và vận hành giữa lực lượng cảnh sát biển, biên phòng Việt Nam và lực lượng quản lý biên giới Úc, chia sẻ thông tin tình báo hàng hải, phối hợp tuần tra chống đánh bắt cá trái phép và đặc biệt là xử lý di dân bất hợp pháp. Cụ thể, Úc sẽ hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực giám sát không gian biển, thông qua các chương trình trong khuôn khổ đối tác hàng hải Úc và Đông Nam Á. Và Úc cũng sẽ giúp cho Việt Nam giám sát tốt hơn các hoạt động ở vùng biển tranh chấp trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế. Đọc thêmHợp tác an ninh hàng hải giữa Úc với Việt Nam sẽ “không phô trương” như với Philippines Điểm thứ hai là cứu hộ cứu nạn và hỗ trợ thảm họa, cũng sẽ được đẩy mạnh trong tương lai, liên quan tới hoạt động huấn luyện và diễn tập chung. Tại sao điểm này là điểm khá quan trọng ? Bởi vì quân đội Việt Nam và quân đội Úc cũng sẽ mở rộng quy mô các cuộc diễn tập đa phương và tương tác giữa các quân binh chủng. Trong tương lai, Việt Nam sẽ tiếp tục mở rộng tham gia vào các cuộc diễn tập do Úc chủ trì. Ví dụ cuộc diễn tập Hải Quân đa phương Kakadu, Việt Nam đã tham gia trong hai năm 2024, 2026. Việt Nam cũng sẽ tiếp tục cử quan sát viên tới cuộc diễn tập Talisman Sabre. Trong tương lai, tần suất cũng như là nội dung tham gia sẽ được mở rộng ra thêm. Và tương tác quân binh chủng cũng sẽ tập trung chuyên sâu vào các mảng mà hai bên có thế mạnh, ví dụ như quân y, công binh và chống khủng bố. Ngoài ra, còn có một mảng là phòng chống tội phạm xuyên quốc gia và an ninh phi truyền thống thì sẽ tập trung vào phòng chống tội phạm mạng và lừa đảo trực tuyến, an ninh biên giới. Bộ Quốc Phòng, bộ Công An Việt Nam sẽ hợp tác với bộ Nội Vụ và Cảnh sát Úc trong chống buôn lậu, rửa tiền, ma túy. Tóm lại, hướng đi tương lai của hợp tác quốc phòng Việt-Úc sẽ bám sát vào tinh thần của quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai bên. Và ở đây, Việt Nam nhấn mạnh tới điểm là không hướng tới “liên minh quân sự” chống lại bên thứ ba và hợp tác là nhằm nâng cao năng lực tự chủ của cả hai bên và đóng góp vào ổn định và hòa bình của toàn bộ khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương. RFI : Giới chuyên gia và truyền thông phương Tây đều nhắc đến Trung Quốc và Hoa Kỳ trong sự gia tăng hợp tác an ninh giữa Úc và Việt Nam cho dù không trực tiếp nêu tên. Mỹ và Trung Quốc đóng vai trò như thế nào trong chiến lược tăng cường hợp tác giữa Úc và Việt Nam ? Nguyễn Thế Phương : Cả hai nước đều là hai nước lớn. Và quá trình cạnh tranh hợp tác giữa Mỹ và Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương luôn là một yếu tố cấu trúc nền tảng trong bất kỳ mối quan hệ an ninh quốc phòng nào, không chỉ của Việt Nam và Úc mà còn của tất cả cặp song phương khác ở khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương. Ở đây, Trung Quốc là yếu tố tạm gọi là “động lực thúc đẩy chính” cho quan hệ Việt-Úc, thì Trung Quốc tạo nên “đồng quy chiến lược” giữa Việt Nam và Úc. Cả Úc và Việt Nam đều là những quốc gia phụ thuộc vào các tuyến đường hàng hải thông qua biển, ở đây là Biển Đông. Và sự gia tăng độ hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông làm cho cả hai bên lo ngại về nguy cơ luật pháp quốc tế bị xói mòn, tạo ra một xung đột không đáng có ở khu vực có tầm quan trọng với giao thương quốc tế là rất cao. Hợp tác an ninh hải sẽ giúp cả Việt Nam và Úc nâng cao năng lực giám sát, cũng như là thực thi pháp luật trên biển. Thứ hai là yếu tố gọi là hedging - phòng ngừa rủi ro. Đối với Úc, họ mong muốn mở rộng quan hệ mạng lưới an ninh với các quốc gia tầm trung ở Đông Nam Á mà Việt Nam là một trong những quốc gia tầm trung quan trọng nhất ở Đông Nam Á. Đối với Việt Nam, tăng cường quan hệ với Úc sẽ giúp Việt Nam đa dạng hóa đối tác và nâng cao năng lực tự chủ quốc phòng mà không tạo ra đối đầu trực tiếp với Bắc Kinh. Điểm này được Việt Nam gọi là “cân bằng mềm”. Tăng cường hợp tác với Úc, ở đây không nói về Mỹ, để tạo một tấm đệm để Việt Nam đa dạng hóa nguồn lực. Và cuối cùng, điểm này tương đối mới ở thời điểm hiện tại, đó là giảm thiểu rủi ro chuỗi cung ứng. Hợp tác với Úc không chỉ lĩnh vực quốc phòng và thuần an ninh, mà nó còn mở ra sang lĩnh kinh tế, cụ thể là khoáng sản thiết yếu, chuỗi cung ứng, làm tránh phụ thuộc quá lớn vào thị trường hay là tránh bị gây sức ép từ phía Trung Quốc. Đó là những lý do khiến cho Trung Quốc là chất xúc tác để Việt Nam và Úc có thể nhận ra được lợi ích chung của cả hai bên trong việc tăng cường hợp tác. Đọc thêmTừ AUKUS đến Bộ Tứ : Gọng kềm Mỹ đang siết lại với Trung Quốc ở Thái Bình Dương Đối với Mỹ, Mỹ sẽ xem đó là một điểm tựa mang tính cấu trúc. Từ Chiến tranh Thế thứ hai cũng như từ Chiến tranh lạnh tới nay, Mỹ là nhà cung cấp an ninh (security provider) rất lớn cho khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương. Và nó thể hiện thông qua việc Úc là đồng minh lâu đời của Mỹ. Úc nằm trong liên minh AUKUS, trong nhóm Bộ Tứ QUAD, nằm trong liên Minh Mỹ-Úc-New Zealand - ANZUS. Việc Úc chủ động thắt chặt an ninh với Việt Nam phù hợp với chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Mỹ. Washington đang cố gắng xây dựng một mạng lưới đối tác tự chủ và có khả năng tự bảo vệ luật lệ ở khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương mà Mỹ không cần phải can thiệp quá sâu. Điểm thứ hai là mở rộng quan hệ song phương Việt-Úc có thể tạo ra một dư địa cho Hà Nội. Việt Nam nâng cấp quan hệ với Mỹ năm 2023, một năm sau là nâng cấp quan hệ với Úc lên đối tác chiến lược toàn diện. Và điều này cho thấy Việt Nam đang chủ động định vị lại bản thân trong một không gian chiến lược bắt đầu đa cực, trong đó các cường quốc tầm trung nổi lên và có tiếng nói lớn hơn so với trước đây. Và quan hệ song phương vững chắc với Úc cho phép Việt Nam tiếp cận các nguồn lực an ninh, huấn luyện kỹ thuật mang chuẩn mực phương Tây mà không bị gán nhãn là đi theo liên minh quân sự với Mỹ ở một mức độ nhất định, ở thời điểm này đối với Việt Nam là tương đối quan trọng. Điểm cuối cùng mà cả hai bên đều thể hiện là Úc và Việt Nam đều lo ngại về sự thiếu ổn định trong chính sách của Mỹ. Cả Việt Nam và Úc đều nhận thức được là chính sách đối ngoại của Washington dưới thời Donald Trump khá bất định. Và hợp tác song phương Úc-Việt là một cách để hai nước tự xây dựng mắt xích an ninh khu vực, mà không hoàn toàn phụ thuộc vào sự can thiệp của Mỹ và những gì mà Mỹ làm ở khu vực cũng như là những khu vực khác. Mỹ và Trung Quốc thúc đẩy Việt Nam và Úc tới gần với nhau hơn, nhưng sự hiện diện của cả hai siêu cường cũng đặt ra một số ranh giới rõ ràng cho hợp tác an ninh Việt-Úc. Thứ nhất là tư duy tránh chọn bên của Việt Nam. Đây là một hằng số cố định trong tư duy chiến lược của Việt Nam. Bởi vì Việt Nam luôn nhất quán thực hiện chính sách quốc phòng “bốn Không” và trường phái “ngoại giao cây tre”. Tăng cường hợp tác với Úc để bảo về chủ quyền chứ không chọn Úc, Mỹ để chống Trung Quốc. Thứ hai là ngay cả Úc cũng có một sự cân bằng thực dụng. Phía Úc nhận thức rõ được điểm này của Việt Nam. Thực tế mà nói trong những thảo luận song phương, Úc cũng không ép Việt Nam phải cam kết theo quy tắc “đồng minh” kiểu phương Tây mà tập trung vào nâng cao năng lực thực chất hơn, ví dụ những mảng mà cả hai bên, ở thời điểm hiện tại, với mức độ quan hệ hiện tại, đều thoải mái trong việc trao đổi thông tin, trao đổi quân sự. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn tiến sĩ Nguyễn Thế Phương, Đại học New South Wales, Úc.

    Full show notes at the publisher

    1 2 3 Next

    Related Podcasts

    Inside Strategic Coach: Connecting Entrepreneurs With What Really Matters

    1

    Inside Strategic Coach: Connecting Entrepreneurs With What Really Matters Business
    WSJ Your Money Briefing

    2

    WSJ Your Money Briefing Business
    FORTUNE Unfiltered with Aaron Task

    3

    FORTUNE Unfiltered with Aaron Task Business
    FORTUNE OnStage Presents: The Most Powerful Women

    4

    FORTUNE OnStage Presents: The Most Powerful Women Business
    Slate Money

    5

    Slate Money Business
    In The Dark – The New Yorker

    6

    In The Dark – The New Yorker Business News
    footer-logo

    Contact Us

    Toll Free: 844-670-7747

    Links

    • Home
    • Top Charts
    • Networks
    • Apps
    • Independents Podcasts
    • Podcast Advertising
    • Podcast News
    • Contact Us
    • About Us
    • Analytics & Insights

    Stay Connected

      Privacy, Terms of Use & Our Code of Ethics Protecting Content Creators Copyrights